TetXua.comTết Xưa
Tết trong văn chương và nghệ thuật

Bài thơ Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ: bức tranh phiên chợ quê cuối năm từ sáng đến chiều

Đọc hiểu bài thơ Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ: bố cục theo thời gian một ngày, bảng màu rực rỡ, đám người đi chợ, cảnh chợ đông vui và buổi chiều tan chợ.

Winding dirt path over green hills at dawn in northern Vietnam, villagers from far behind walking to a rural market with baskets and shoulder poles, pink mist over thatched roofs

Bài thơ Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ vẽ lại một phiên chợ quê ngày cuối năm theo trình tự thời gian: tinh mơ người các ấp nô nức lên đường, giữa ngày chợ đông vui với đủ hạng người và hàng hoá, chiều về người quê lũ lượt ra về trong nắng vàng và lá đa rơi. Bài thơ nổi tiếng nhờ bảng màu tươi sáng và lối tả cụ thể như tranh dân gian.

Bài viết đi qua tác giả, bố cục, những hình ảnh tiêu biểu và nghệ thuật của bài thơ, dành cho người yêu thơ và học sinh tìm hiểu. Vì bài thơ còn trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả, bài chủ yếu diễn ý và chỉ trích vài chữ khi cần; bạn nên đọc toàn văn trong sách giáo khoa hoặc tuyển tập đã xuất bản. Phiên chợ Tết như một tục có bài riêng ở danh mục chợ Tết của trang.

Đoàn Văn Cừ, nhà thơ của làng quê đồng bằng Bắc Bộ

Đoàn Văn Cừ là một gương mặt của phong trào Thơ mới, quê ở vùng Nam Định cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sắp xếp năm 2025. Khác với nhiều nhà thơ cùng thời hướng về nỗi buồn đô thị hay tình yêu lãng mạn, ông chọn làng quê làm đề tài chính: phiên chợ, đám cưới, đêm hội, cảnh đồng ruộng theo mùa.

Vì vậy ông thường được gọi là nhà thơ của làng quê. Thơ ông đầy những chi tiết cụ thể của đời sống nông thôn Bắc Bộ: chiếc yếm thắm, nóc nhà gianh, con trâu, con bò, gánh hàng, ngôi miếu cổ. Đọc thơ ông giống như xem một bộ tranh phong tục, nơi mỗi nhân vật đều có việc của mình.

Chợ Tết là bài tiêu biểu nhất trong mảng thơ ấy, được đưa vào chương trình Ngữ văn và các tuyển tập thơ về Tết. Bài thơ không kể một câu chuyện có nhân vật chính, mà dựng cả một quang cảnh, nơi nhân vật chính là đám đông người quê và chính phiên chợ.

Đọc Chợ Tết, nên nhớ rằng nhà thơ viết khi làng quê Bắc Bộ còn giữ gần như nguyên vẹn nếp sống cổ truyền: chợ họp theo phiên, người đi bộ hàng dặm để tới chợ, hàng hoá chủ yếu do chính người làng làm ra. Bài thơ vì vậy vừa là cảm xúc riêng của tác giả vừa là ký ức chung của nhiều thế hệ nông dân.

Bố cục bài thơ Chợ Tết theo thời gian một ngày

Bài thơ đi theo trình tự thời gian từ sáng sớm đến chiều tối, kéo người đọc từ đường làng vào chợ rồi ra về. Có thể chia bố cục như sau:

PhầnThời điểmNội dung chính
Mở đầuTinh mơCảnh thiên nhiên lúc bình minh: mây đỏ dần trên núi, sương hồng lam phủ những mái nhà tranh
Trên đường đi chợSáng sớmNgười các ấp nô nức kéo nhau ra chợ: trẻ con áo đỏ, cụ già chống gậy, cô gái yếm thắm, em bé nép bên mẹ, người gánh lợn, con bò chạy theo
Trong chợGiữa ngàyChợ đông người ra vào; con trâu đứng lim dim; anh hàng tranh gánh hàng tìm chỗ bày; thầy khoá viết câu đối; bà cụ bán hàng bên miếu cổ
Tan chợChiềuNgười quê lũ lượt ra về; nắng vàng kéo dài trên cỏ; lá đa rụng quanh quán chợ

Cấu trúc theo thời gian này giúp bài thơ có chuyển động: người đọc như đi cùng đám người quê suốt một ngày. Phần mở và phần kết đều là thiên nhiên, bao lấy phần giữa là con người, tạo một khung tranh cân đối. Đây là điểm thường được hỏi khi phân tích bố cục bài thơ.

Bức tranh thiên nhiên lúc tinh mơ: bảng màu của bài thơ

Ngay những câu đầu, nhà thơ đã mở ra một bảng màu: mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi, làn sương hồng lam ôm ấp những nóc nhà gianh, con đường viền trắng chạy quanh mép đồi xanh. Trắng, đỏ, hồng, lam, xanh, những màu tươi mát của buổi bình minh mùa xuân hiện lên như một bức tranh màu nước.

Thiên nhiên trong đoạn này được nhân hoá: sương ôm ấp mái nhà, núi như khoác áo, đồi như thoa son. Cách nói ấy làm cảnh vật như cũng sửa soạn đi chợ Tết cùng con người. Không có gì u buồn hay tĩnh lặng; tất cả đều đang thức dậy, chuyển động, chuẩn bị cho một ngày vui.

Đặt cạnh nhiều bài Thơ mới cùng thời thường nhuốm buồn, sắc màu tươi sáng của đoạn mở đầu Chợ Tết là một nét riêng. Nó cho thấy cái nhìn trìu mến, lạc quan của nhà thơ với quê hương, và chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước vào không khí rộn ràng của phiên chợ.

Khi học đoạn này, có thể thử liệt kê tất cả các từ chỉ màu sắc, rồi xem chúng thay đổi thế nào từ đầu bài đến cuối bài. Buổi sáng là hồng, lam, trắng, đỏ tươi; buổi chiều là vàng của nắng và màu lá đa rụng. Sự chuyển màu ấy chính là sự chuyển của thời gian và tâm trạng trong bài thơ.

Đám người đi chợ: mỗi người một dáng

Trẻ con áo đỏ. Những đứa trẻ mặc áo đỏ chạy lon xon trên đường, màu áo hoà với màu Tết. Chúng là hình ảnh của niềm vui hồn nhiên nhất trong ngày chợ.

Cụ già chống gậy. Vài cụ già chống gậy bước chậm, dáng lom khom. Tuổi già không ngăn được việc đi chợ Tết, vì đây là phiên chợ của cả làng, của mọi lứa tuổi.

Cô gái yếm thắm. Cô gái mặc yếm thắm che miệng cười lặng lẽ, nét duyên kín đáo của con gái quê. Chỉ một cử chỉ nhỏ mà gợi được cả tính cách.

Em bé bên mẹ. Em bé nép đầu bên yếm mẹ, một chi tiết rất đời, rất ấm. Phiên chợ Tết là chuyện của cả gia đình.

Thiên nhiên cùng đi chợ. Xen giữa đám người là những giọt sương trên đầu cành, tia nắng trên ruộng lúa, dáng núi đồi được nhân hoá. Con người và cảnh vật hoà vào nhau trong cùng một nhịp rộn ràng của buổi sáng cuối năm, khiến cả đất trời như cũng đang trẩy hội.

Người gánh lợn và con bò vàng. Hai người gánh lợn đi đầu, con bò vàng ngộ nghĩnh chạy theo sau. Động vật cũng có mặt trong đám đông, làm bức tranh thêm sinh động và hóm hỉnh.

Cảnh chợ đông vui và chiều tan chợ

Vào đến chợ, người mua kẻ bán ra vào đầy cổng. Nhà thơ dừng lại ở những chi tiết bất ngờ, như con trâu đứng lim dim mắt như đang lắng nghe khách nói chuyện ồn ào. Anh hàng tranh gánh hàng tìm chỗ đông người để bày bán, gợi tục chơi tranh Tết của làng quê. Một thầy khoá, tức người học chữ Nho, gò lưng trên tấm phản, tay mài mực, cặm cụi viết câu đối. Một bà cụ già bán hàng bên ngôi miếu cổ, tóc trắng như được thời gian gột rửa.

Những chân dung ấy cho thấy chợ Tết không chỉ là nơi mua bán mà là nơi hội tụ các nghề, các lứa tuổi, các nét văn hoá: tranh, chữ, đồ thờ, hàng ăn. Hình ảnh thầy khoá viết câu đối gợi một không khí gần với bài Ông đồ của Vũ Đình Liên, nhưng ở đây không có nỗi buồn mà chỉ có sự cặm cụi giữa đám đông.

Khi chiều xuống, người quê lũ lượt ra về. Nắng vàng trải dài trên cỏ, lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ vắng. Đoạn kết khép lại phiên chợ bằng một chút bâng khuâng, như mọi cuộc vui đều có lúc tàn. Nhưng nỗi bâng khuâng ấy nhẹ nhàng, không bi thương, vì người ta ra về với những gánh hàng Tết, và ngày mai Tết sẽ đến.

Nghệ thuật của bài thơ: tả như vẽ, kể như phim

Bài thơ viết theo thể tám chữ, câu dài vừa đủ để chứa nhiều chi tiết, nhịp thơ đều như bước chân đi chợ. Ngôn ngữ giàu từ láy gợi hình và gợi thanh như lon xon, lom khom, kĩu kịt, bô bô, hí hoáy, lê thê, tơi bời, giúp người đọc vừa thấy dáng vừa nghe tiếng của phiên chợ.

Lối tả của Đoàn Văn Cừ gần với tranh dân gian: mỗi nhân vật được vẽ bằng vài nét điển hình, đặt cạnh nhau như trên một tấm tranh lớn. Đồng thời, bài thơ chuyển cảnh theo thời gian và không gian như một thước phim, từ toàn cảnh núi đồi đến cận cảnh từng người, rồi lại lùi ra toàn cảnh lúc chiều tà.

Màu sắc là điểm sáng nhất: đỏ, hồng, lam, xanh, vàng, trắng xuất hiện dày đặc, tạo nên một bức tranh Tết rực rỡ. Khi phân tích, học sinh có thể chọn một trong ba hướng: màu sắc, chân dung con người, hoặc cấu trúc thời gian. Mỗi hướng đều đủ để làm nên một bài viết có điểm nhấn rõ ràng thay vì kể lại nội dung từng đoạn.

Đọc Chợ Tết hôm nay: một tư liệu về làng quê xưa

Ngoài giá trị văn chương, Chợ Tết còn là một tư liệu sống động về phiên chợ quê Bắc Bộ đầu thế kỷ hai mươi: trang phục yếm thắm, áo the, nóc nhà gianh, nghề viết câu đối, gánh tranh Tết, người gánh lợn đi chợ. Nhiều thứ trong bài nay đã vắng, và đọc bài thơ là một cách nhìn lại.

Với người lớn tuổi, bài thơ gợi những phiên chợ Tết của tuổi thơ. Với người trẻ ở thành phố, nó là cánh cửa nhìn vào một đời sống mà họ chỉ biết qua sách. Đọc bài thơ cho con nghe trước khi dẫn con đi một phiên chợ quê thật có thể giúp trẻ nhận ra những gì còn và những gì đã đổi.

Nếu viết về phiên chợ Tết, bạn có thể học cách Đoàn Văn Cừ chọn chi tiết: không tả chung chung "chợ đông vui" mà chọn một con trâu lim dim, một cô gái che miệng cười, một em bé nép bên mẹ. Chính những chi tiết nhỏ, đúng, sống ấy làm nên sức sống lâu bền của bài thơ.

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Chợ Tết thuộc thể thơ gì?

Bài thơ viết theo thể tám chữ, mỗi câu tám tiếng, nhịp đều, giàu từ láy gợi hình gợi thanh. Thể thơ này phổ biến trong phong trào Thơ mới và hợp với lối kể, tả nhiều chi tiết của bài.

Bố cục bài thơ Chợ Tết gồm mấy phần?

Có thể chia thành bốn phần theo thời gian: cảnh thiên nhiên lúc tinh mơ, cảnh người các ấp trên đường đi chợ, cảnh chợ đông vui giữa ngày và cảnh tan chợ lúc chiều. Có cách chia ba phần gộp hai đoạn đầu; cả hai cách đều được chấp nhận.

Những hình ảnh tiêu biểu trong bài thơ là gì?

Thường được nhắc là sương hồng lam trên nóc nhà gianh, trẻ con áo đỏ chạy lon xon, cụ già chống gậy, cô gái yếm thắm cười, con bò vàng chạy theo người gánh lợn, con trâu đứng lim dim, thầy khoá viết câu đối và lá đa rụng lúc tan chợ.

Đoàn Văn Cừ quê ở đâu?

Đoàn Văn Cừ quê ở vùng Nam Định cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025. Ông được biết đến như nhà thơ của làng quê đồng bằng Bắc Bộ trong phong trào Thơ mới.

Thầy khoá trong bài thơ là ai?

Thầy khoá là cách gọi người học chữ Nho, học trò theo đường khoa cử xưa. Trong bài, thầy khoá ngồi trên tấm phản viết câu đối bán cho người đi chợ Tết, một nét quen của phiên chợ cuối năm khi nhà nhà cần câu đối dán cửa.

Có thể trích dẫn toàn bài thơ Chợ Tết không?

Bài thơ còn trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả, nên khi viết bài đăng công khai, bạn chỉ nên trích ngắn vài câu để bình luận, ghi rõ tác giả và tác phẩm. Toàn văn nên đọc trong sách giáo khoa hoặc tuyển tập đã xuất bản.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183