TetXua.comTết Xưa
Tết trong văn chương và nghệ thuật

Bài thơ Chợ Đồng của Nguyễn Khuyến: phiên chợ cuối năm và nỗi lo năm hết

Đọc bài thơ Chợ Đồng của Nguyễn Khuyến: phiên chợ hai mươi bốn tháng Chạp ở quê Yên Đổ, mưa bụi rét, nợ nần năm hết và tiếng pháo báo xuân về cuối bài.

Small rural market in the Red River delta on a cold drizzly late afternoon, a few vendors packing up under thatched stalls, an old temple wall in the background, muted gray tones

Chợ Đồng là bài thơ thất ngôn bát cú của Nguyễn Khuyến tả phiên chợ quê ngày hai mươi bốn tháng Chạp, phiên chợ cuối cùng trước Tết: trời mưa bụi còn rét, chợ họp thưa thớt, người ta xôn xao chuyện nợ nần năm hết, rồi kết bằng tiếng pháo báo xuân sắp về. Bài thơ ngắn mà gói cả không khí Tết làng quê lẫn nỗi lo cơm áo cuối năm.

Bài viết giới thiệu Nguyễn Khuyến, đọc bài thơ theo bố cục đề, thực, luận, kết của thơ Đường luật, chỉ ra những hình ảnh gợi Tết và nét riêng của cái nhìn nhà thơ. Nguyễn Khuyến mất năm 1909, thơ ông đã thuộc về công chúng; bài chỉ trích nguyên văn những câu ổn định trong các bản phổ biến, còn lại diễn ý vì thơ Nôm của ông có chỗ khác nhau giữa các bản chép.

Nguyễn Khuyến, Tam nguyên Yên Đổ, và làng quê trong thơ ông

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, mất năm 1909, quê làng Yên Đổ, vùng Bình Lục của Hà Nam cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sắp xếp năm 2025. Ông đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Làm quan một thời gian, ông cáo quan về quê sống những năm cuối đời giữa lúc đất nước đổi thay.

Thơ Nguyễn Khuyến ở giai đoạn về quê gắn chặt với làng: ao thu, ngõ trúc, đồng lúa, phiên chợ, người nông dân. Ông nhìn làng quê bằng con mắt của người trong cuộc, vừa yêu thương vừa thấu hiểu nỗi vất vả của người dân. Ba bài thơ thu nổi tiếng của ông là ví dụ cho bức tranh làng quê thanh đạm ấy.

Chợ Đồng thuộc mảng thơ này, nhưng khác ba bài thơ thu ở chỗ nó không tĩnh lặng mà có tiếng người, tiếng chợ, tiếng pháo. Nó cũng là một trong những bài thơ hiếm hoi của văn học trung đại tả cụ thể không khí những ngày giáp Tết ở một làng quê Bắc Bộ, nên thường được nhắc khi nói về Tết trong văn chương.

Phiên chợ cuối năm ở làng quê xưa: bối cảnh để hiểu bài thơ

Làng quê Bắc Bộ xưa có chợ họp theo phiên, mỗi tháng vài phiên vào những ngày cố định theo âm lịch. Phiên cuối cùng của tháng Chạp là phiên quan trọng nhất trong năm: người làng ra chợ sắm những thứ cuối cùng cho Tết, bán nốt nông sản để có tiền, gặp nhau hỏi han chuyện năm cũ. Sau phiên ấy, chợ nghỉ Tết, nhiều nơi phải đến mùng mấy tháng Giêng mới họp lại.

Ngày hai mươi bốn tháng Chạp đến sau lễ tiễn ông Táo một ngày, khi không khí Tết đã vào từng nhà. Nhưng đó cũng là lúc nhà nào thiếu thì lộ rõ cái thiếu, nhà nào nợ thì phải lo trả. Phiên chợ vì vậy vừa vui vừa căng thẳng, có người hồ hởi mua sắm, có người lặng lẽ bán đi chút gì để có tiền đón Tết.

Biết bối cảnh ấy, người đọc sẽ hiểu vì sao Nguyễn Khuyến chọn đúng phiên hai mươi bốn để viết, và vì sao bài thơ có cả tiếng chợ lẫn tiếng thở dài. Ông không viết về Tết từ trên cao, mà từ chỗ của một người làng đang hỏi thăm phiên chợ quen, hỏi thăm những người quen trong làng.

Hai câu đề: một câu hỏi bâng quơ mở ra phiên chợ cuối năm

Bài thơ mở đầu bằng hai câu: "Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng, / Năm nay chợ họp có đông không?" Câu thứ nhất nêu thời gian và địa điểm rất cụ thể, ngày hai mươi bốn tháng Chạp ở chợ Đồng, một phiên chợ quê gần nơi nhà thơ sống. Câu thứ hai là một câu hỏi, như người đứng ở nhà hỏi vọng ra, hoặc như tự hỏi chính mình.

Câu hỏi "có đông không" chứa nhiều ý. Phiên chợ hai mươi bốn là phiên cuối năm, đáng lẽ phải đông vui nhất. Nhưng nhà thơ không chắc, vì năm ấy có thể là năm mất mùa, năm khó khăn. Câu hỏi bâng quơ ấy vì vậy đã gợi một chút lo lắng ngay từ đầu, trái với không khí hồ hởi thường thấy khi người ta nói về chợ Tết.

Theo lệ thơ Đường luật, hai câu đề giới thiệu đề tài và gợi không khí chung. Ở đây, Nguyễn Khuyến dùng lời thơ gần lời nói thường, nhẹ nhàng như chuyện trò, đúng phong cách thơ Nôm của ông. Người đọc lập tức được đưa vào một làng quê cụ thể, một ngày cụ thể, không phải cảnh xuân ước lệ của thơ chữ Hán.

Bốn câu giữa: mưa bụi, rượu tường đền, chợ vãn và nợ nần

Thời tiết ngày giáp Tết. Câu thực đầu tả trời dở dang, mưa bụi và còn hơi rét, đúng tiết cuối đông ở đồng bằng Bắc Bộ. Mưa bụi không làm chợ tan nhưng làm chợ kém vui, phù hợp với nỗi băn khoăn ở câu hỏi mở đầu.

Chuyện rượu ở tường đền. Câu tiếp nhắc chuyện nếm rượu ở tường đền và hỏi được mấy ông, gợi tục các cụ trong làng tụ họp quanh đền miếu những ngày cuối năm. Chi tiết này mang chút hóm hỉnh: người ta hỏi nhau năm nay ai còn, ai vắng, ai đủ sức ra chợ.

Hàng quán xao xác. Hai câu luận chuyển sang cảnh chợ lúc vãn: người về, hàng quán xao xác. Từ "xáo xác" vừa gợi âm thanh vừa gợi sự lộn xộn, vội vã của phiên chợ cuối năm khi ai cũng muốn về sớm lo việc nhà.

Nợ nần năm hết. Câu tiếp nói chuyện nợ nần cuối năm, người ta hỏi nhau tíu tít. Đây là chi tiết rất thật của làng quê xưa: tháng Chạp là tháng đòi nợ, trả nợ, ai cũng muốn xong trước Tết. Nhà thơ đưa vào thơ một nỗi lo mà thơ Tết thường bỏ qua.

Hai câu kết: tiếng pháo nhà ai báo tin xuân

Bài thơ khép lại bằng hai câu: "Dăm ba ngày nữa tin xuân tới, / Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng." Sau những rét mướt, xao xác, nợ nần, chỉ còn vài ngày là xuân về. Và từ một nhà nào đó, một tiếng pháo bật lên, như báo trước không khí Tết.

Tiếng pháo ở đây rất đáng chú ý. Không phải tràng pháo rộn rã mà chỉ là một tiếng đùng, của nhà ai không rõ. Nó vừa vui vừa lẻ loi. Có người đọc thấy ở đó niềm vui nhỏ nhoi giữa nỗi lo; có người thấy sự cô đơn của người nghe, đứng ngoài cái vui của người khác. Cả hai cách hiểu đều có cơ sở, và chính sự mở ấy làm câu kết đáng nhớ.

Pháo trúc là loại pháo xưa, có cách giải thích là pháo làm từ ống tre, trúc, khi đốt nổ to. Theo quan niệm dân gian, tiếng pháo ngày Tết xua đi những điều không may của năm cũ. Đặt tiếng pháo ở cuối bài, nhà thơ để năm mới đến bằng một âm thanh, một tín hiệu, thay vì một lời tuyên bố.

Về niêm luật, hai câu kết vẫn giữ đúng vần của bài, khép lại trọn vẹn khuôn thất ngôn bát cú. Nhưng giọng thơ thì nhẹ hẳn đi so với bốn câu giữa, như người vừa đi chợ về, đặt gánh xuống, nghe một tiếng pháo xa và chợt nhớ ra Tết sắp đến thật rồi.

Chợ Đồng và các bài thơ, câu thơ khác về phiên chợ Tết

Đặt Chợ Đồng cạnh vài tác phẩm khác viết về chợ Tết giúp thấy rõ nét riêng của Nguyễn Khuyến. Bảng dưới so sánh khái quát ở mức nội dung.

Tác phẩmThời kỳKhông khí chínhĐiểm nhìn
Chợ Đồng (Nguyễn Khuyến)Cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươiVừa vui vừa lo, mưa rét, nợ nần, tiếng pháo lẻNgười trong làng, hiểu nỗi vất vả của dân
Chợ Tết (Đoàn Văn Cừ)Phong trào Thơ mớiRực rỡ, đông vui, nhiều màu sắcNgười quan sát trìu mến, tả như tranh
Câu đối dân gian về TếtTruyền miệng nhiều đờiĐủ đầy, mong ướcTiếng nói chung của cộng đồng
Thơ Tết Tú XươngĐầu thế kỷ hai mươiTrào phúng, tự trào cái nghèoNhà nho thất thế ở đô thị

So sánh cho thấy Chợ Đồng đứng ở giữa: không rực rỡ như Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ, không châm biếm gay gắt như Tú Xương, mà trầm lặng, chân thực. Đó là giọng của một người từng làm quan, nay sống giữa làng, nhìn Tết bằng con mắt của người lo cho dân và lo cho chính mình.

Khi làm bài so sánh, học sinh nên chọn một tiêu chí rõ ràng như không khí, điểm nhìn hay ngôn ngữ, rồi dẫn chứng bằng chi tiết cụ thể từ từng bài, tránh so sánh chung chung kiểu bài này buồn, bài kia vui.

Đọc Chợ Đồng hôm nay: Tết không chỉ có niềm vui

Chợ Đồng nhắc người đọc hôm nay rằng Tết của người xưa không chỉ là cành đào, bánh chưng và câu đối đỏ. Đó còn là những ngày rét, những lo toan nợ nần, những phiên chợ không đông như mong đợi. Văn chương ghi lại cả hai mặt ấy giúp ta hiểu Tết một cách đầy đủ hơn.

Với học sinh, Chợ Đồng là ví dụ tốt để học thơ Nôm Đường luật: ngôn ngữ gần lời nói thường, hình ảnh lấy từ đời sống làng quê, nhưng vẫn giữ niêm luật chặt chẽ của thể thất ngôn bát cú. Khi phân tích, nên bám vào bố cục đề, thực, luận, kết, và để ý cách nhà thơ chuyển từ câu hỏi đầu bài tới tiếng pháo cuối bài.

Với người yêu Tết xưa, đọc bài thơ vào những ngày cuối tháng Chạp là một cách lắng lại giữa bận rộn. Một phiên chợ quê, một cơn mưa bụi, một tiếng pháo xa, chừng ấy thôi đã đủ làm nên không khí Tết. Có lẽ đó là bài học Nguyễn Khuyến để lại: Tết đẹp ở những điều nhỏ, thật, không cần phô trương.

Nếu muốn đọc thêm, bạn có thể tìm các bài thơ khác của Nguyễn Khuyến về đời sống làng quê, như những bài viết về mùa màng, về người nông dân, về cảnh nghèo của chính nhà thơ những năm về hưu. Đặt Chợ Đồng giữa những bài ấy, người đọc sẽ thấy phiên chợ cuối năm chỉ là một lát cắt của cả một bức tranh làng quê mà ông dành nửa cuối đời để ghi lại.

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Chợ Đồng của ai?

Chợ Đồng là bài thơ Nôm của Nguyễn Khuyến (1835–1909), nhà thơ được gọi là Tam nguyên Yên Đổ vì đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình. Bài thơ tả phiên chợ quê ngày hai mươi bốn tháng Chạp, phiên chợ cuối cùng trước Tết.

Bài thơ Chợ Đồng thuộc thể thơ gì?

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ, chia bốn phần đề, thực, luận, kết. Nguyễn Khuyến dùng thể thơ chặt chẽ này nhưng với ngôn ngữ Nôm gần gũi lời nói thường ngày.

Chợ Đồng ở đâu?

Chợ Đồng là một phiên chợ quê gần làng Yên Đổ, quê của Nguyễn Khuyến, thuộc vùng Bình Lục của Hà Nam cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sắp xếp năm 2025. Trong bài thơ, đó là phiên chợ cuối năm mà người làng mong đợi.

Tiếng pháo cuối bài thơ có ý nghĩa gì?

Tiếng pháo nhà ai báo hiệu xuân sắp về sau những ngày rét mướt và lo toan. Chỉ là một tiếng lẻ loi, nên có thể đọc như niềm vui nhỏ giữa nỗi lo, hoặc như cảm giác người nghe đứng ngoài cái vui của người khác.

Vì sao bài thơ nhắc đến nợ nần?

Tháng Chạp xưa là tháng thanh toán nợ nần, người ta muốn trả xong trước Tết để không mang nợ sang năm mới. Chi tiết ấy làm bài thơ chân thực, cho thấy Tết làng quê không chỉ có niềm vui mà còn có những lo toan cơm áo.

Có những bản chép khác nhau của bài Chợ Đồng không?

Có. Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến được lưu truyền và chép lại qua nhiều người, nên một số chữ trong bài có thể khác nhau giữa các bản. Khi học hoặc trích dẫn, nên dùng bản trong sách giáo khoa hoặc tuyển tập có chú giải của nhà nghiên cứu.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183