Trừ tịch là đêm cuối cùng của năm âm lịch (đêm ba mươi, hoặc hai mươi chín nếu tháng Chạp thiếu); nguyên đán là buổi sáng đầu tiên của năm mới; chính nguyệt là tháng Giêng; lạp nguyệt là tháng Chạp. Trong văn khấn Tết, "chính nguyệt sơ nhất nhật" nghĩa là ngày mùng Một tháng Giêng. Đó là những chữ người đọc hay vấp nhất khi cầm một bản khấn Tết in bằng chữ quốc ngữ nhưng giữ nhiều cụm Hán Việt.
Bài này gom các chữ chỉ ngày, tháng, năm, giờ khắc thường xuất hiện trong các bài khấn mùa Tết, từ tiễn Táo quân đến hoá vàng, giải nghĩa từng chữ và chỉ chỗ nó đứng trong câu. Bài không đăng toàn văn bài khấn nào; nếu cần bản đầy đủ, bạn tham khảo các trang chuyên về văn khấn Tết rồi quay lại đây để đọc hiểu.
Bảng chữ chỉ thời khắc Tết thường gặp
Các chữ dưới đây xuất hiện nhiều trong văn khấn, câu đối và sách lịch. Nghĩa ghi theo nghĩa phổ thông của từ Hán Việt; trong dân gian có khi được dùng rộng hơn.
| Chữ | Nghĩa đen | Dùng trong văn khấn Tết |
|---|---|---|
| Trừ tịch (除夕) | đêm "trừ" năm cũ | đêm ba mươi (hoặc hai mươi chín) tháng Chạp |
| Giao thừa (交承) | giao lại – tiếp nhận | khoảnh khắc chuyển từ năm cũ sang năm mới |
| Nguyên đán (元旦) | buổi sớm đầu tiên | sáng mùng Một Tết |
| Chính nguyệt (正月) | tháng chính, tháng đầu | tháng Giêng |
| Sơ nhất nhật | ngày thứ nhất đầu tháng | ngày mùng Một |
| Lạp nguyệt (臘月) | tháng lễ lạp cuối năm | tháng Chạp |
| Thập nhị nguyệt | tháng mười hai | cũng là tháng Chạp |
| Tuế thứ | năm thứ…, năm lần lượt là | đứng trước tên can chi của năm |
| Tân xuân, tân niên | xuân mới, năm mới | lời chúc, lời trình đầu năm |
| Cựu niên, cựu tuế | năm cũ | lời tạ năm đã qua |
Chữ "tịch" trong trừ tịch là buổi tối, đêm; chữ "trừ" là bỏ đi, dời đi, ý nói đêm năm cũ bị dời đi để năm mới đến. Chữ "đán" trong nguyên đán vẽ hình mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời, nên nghĩa là buổi sớm. "Tết Nguyên đán" vì vậy hiểu sát là "tiết buổi sớm đầu năm".
Câu mở đầu "Duy… tuế thứ…": đọc thế nào cho đúng
Nhiều văn khấn Tết, nhất là bản soạn theo lối cổ, mở phần trình ngày giờ bằng câu có khuôn chung: "Duy Việt Nam quốc, tuế thứ [năm can chi], [tháng], [ngày]…". Chữ "Duy" ở đầu là một hư từ trang trọng, mở lời, có thể hiểu như "Nay", "Rằng". "Việt Nam quốc" là nước Việt Nam. "Tuế thứ" nghĩa là "năm lần lượt là", theo sau là tên can chi, ví dụ giả định "tuế thứ Giáp Thìn".
Ở bản khấn quốc ngữ phổ thông, câu này thường được dịch sẵn thành "Hôm nay là ngày… tháng… năm…", nên nhiều người không biết khuôn gốc. Khi gặp bản cổ, bạn chỉ cần nhận ra ba phần: năm theo can chi, tháng theo tên gọi (chính nguyệt, lạp nguyệt…), ngày theo số thứ tự (sơ nhất, sơ nhị, thập ngũ…). Phần còn lại là địa chỉ và tên người đứng khấn.
Lưu ý một điểm hay nhầm: trong đêm trừ tịch, năm vẫn là năm cũ, tháng vẫn là tháng Chạp. Bài khấn tất niên và khấn rước ông bà chiều ba mươi ghi năm cũ, tháng Chạp. Bài khấn sáng mùng Một ghi năm mới, tháng Giêng, ngày sơ nhất. Riêng bài khấn đúng lúc giao thừa, nhiều sách ghi "giờ Tý ngày mùng Một tháng Giêng năm…" theo năm mới, vì khoảnh khắc đó đã bước sang năm mới; có sách lại ghi "đêm ba mươi tháng Chạp". Cả hai cách đều thấy trong sách in, gia đình nên giữ một cách cho nhất quán.
Đếm ngày theo lối Hán Việt: sơ, thập, nhị thập, tam thập
Mười ngày đầu tháng dùng chữ "sơ". "Sơ nhất" là mùng Một, "sơ nhị" mùng Hai, "sơ tam" mùng Ba, cho tới "sơ thập" là mùng Mười. Chữ "mùng" trong tiếng Việt chính là để đánh dấu mười ngày đầu này, giống vai trò chữ "sơ".
Từ ngày 11 đến 19 dùng "thập". "Thập nhất" là 11, "thập ngũ" là 15 (ngày rằm), "thập cửu" là 19. Rằm tháng Giêng vì thế có khi ghi "chính nguyệt thập ngũ nhật".
Từ 20 đến 29 dùng "nhị thập". "Nhị thập" là 20, "nhị thập tam" là 23, chính là ngày tiễn Táo quân "lạp nguyệt nhị thập tam nhật". "Nhị thập cửu" là 29, dùng cho đêm trừ tịch khi tháng Chạp thiếu.
Ngày 30 là "tam thập". "Lạp nguyệt tam thập nhật" là ngày ba mươi tháng Chạp. Tháng âm lịch đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày, nên có năm không có ngày ba mươi Tết; khi đó Tết vẫn đến sau ngày 29.
Một số ngày có tên riêng. Mùng Một mỗi tháng còn gọi là ngày "sóc", ngày rằm gọi là "vọng". Ngày rằm tháng Giêng có tên "Thượng nguyên". Các tên này hay thấy trong văn khấn hằng tháng và văn khấn rằm hơn là văn khấn Tết.
Các chữ chỉ dịp lễ trong mùa Tết, theo thứ tự thời gian
Mùa Tết cổ truyền kéo dài từ tháng Chạp sang tháng Giêng. Mỗi dịp có một tên gọi riêng mà bạn sẽ gặp trong văn khấn và sách phong tục:
- Lễ tiễn Táo quân (23 tháng Chạp): văn khấn hay dùng danh xưng Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân; ngày ghi "lạp nguyệt nhị thập tam nhật".
- Lễ tạ mộ (thường cuối tháng Chạp): khấn ở mộ và khấn thần đất nghĩa trang, mời ông bà về ăn Tết.
- Lễ tất niên (chiều 29 hoặc 30): "tất" là hết, xong; "niên" là năm. Tất niên là lễ khép năm.
- Lễ rước ông bà (chiều 30): một số sách gọi là lễ "nghênh tổ" hay "rước gia tiên".
- Lễ trừ tịch, giao thừa (nửa đêm): tiễn cựu niên Hành khiển, đón đương niên Hành khiển.
- Lễ nguyên đán (sáng mùng Một): còn gọi lễ chính đán, lễ mừng năm mới với thần linh và gia tiên.
- Lễ hoá vàng (mùng 3, mùng 4 hoặc muộn hơn): đốt vàng mã, tiễn ông bà sau Tết; ngày làm tuỳ vùng, tuỳ nhà.
- Lễ khai hạ (mùng 7 tháng Giêng): "khai" là mở, "hạ" là mừng; xưa là ngày hạ cây nêu, kết thúc chuỗi lễ Tết.
Danh sách này giúp bạn đặt đúng chữ ngày tháng cho từng bài khấn. Nội dung mâm lễ của từng dịp không thuộc phạm vi bài này.
Chữ chỉ năm: kim niên, cựu niên, đương niên, tân niên
Kim niên là năm nay. "Kim" nghĩa là nay, hiện tại. "Kim niên" hay đi kèm danh xưng vị thần coi năm, như "Kim niên Đương cai Thái tuế". Trong lời khấn sáng mùng Một, "kim niên" là năm vừa bắt đầu; trong lời khấn tất niên, "kim niên" lại là năm sắp hết. Vì vậy cần đọc cả câu mới biết đang nói năm nào.
Cựu niên và tân niên là cặp đối nhau. "Cựu" là cũ, "tân" là mới. Câu "cựu niên đã qua, tân niên đã đến" là một công thức rất quen trong văn khấn giao thừa phổ biến, dùng để báo thời khắc. Một số bản viết "cựu tuế", "tân tuế", nghĩa không khác.
Đương niên là năm đang trực. "Đương" là đang, đang giữ việc. "Đương niên Hành khiển" là vị Hành khiển đang coi năm. Chữ "đương" cũng có trong "Đương cảnh Thành hoàng" (vị Thành hoàng đang coi vùng này), nên nó mang nghĩa "người đang giữ việc", không riêng chỉ thời gian.
Niên, tuế, tải đều là năm. Ba chữ cùng nghĩa năm nhưng sắc thái khác: "niên" thông dụng nhất, "tuế" thường gắn với tuổi và vòng năm (tuế thứ, Thái tuế), "tải" hay gặp trong cụm "thiên niên vạn tải" của câu chúc. Văn khấn gia đình chủ yếu dùng "niên" và "tuế".
Bách niên, vạn niên trong lời cầu. Phần cầu xin cuối bài khấn đôi khi có "bách niên giai lão", "vạn niên trường thọ". Đây là cụm chúc tụng, không phải mốc thời gian, nên không cần đổi theo năm. Dịch nôm là "sống lâu trăm tuổi", "bền lâu muôn năm".
Tân xuân, khai xuân, nghênh xuân: chữ "xuân" trong lời khấn đầu năm
Lịch âm của người Việt gắn Tết với mùa xuân, nên văn khấn đầu năm dày đặc chữ "xuân". "Tân xuân" là xuân mới. "Khai xuân" là mở đầu mùa xuân, dùng cho việc làm đầu tiên của năm: khai xuân mở hàng, khai xuân đi lễ. "Nghênh xuân" là đón xuân, hay đi cùng "tống cựu" (tiễn cũ) thành câu "tống cựu nghênh tân". "Xuân tiết" là tiết xuân, "nhân tiết xuân" là nhân dịp xuân.
Một số bản khấn Tết có câu kiểu "nay nhân tiết xuân, năm mới bắt đầu", hoặc "đầu xuân năm mới, chúng con kính dâng…". Những cụm này không mang nghĩa nghi lễ đặc biệt; chúng chỉ đánh dấu dịp, giống câu "nhân dịp đầu năm" trong thư từ. Bạn có thể thay bằng lời Việt thuần nếu gia đình quen khấn nôm.
Cũng cần phân biệt "Tết" và "tiết". Chữ "Tết" trong tiếng Việt được nhiều nhà ngôn ngữ cho là đọc chệch từ chữ "tiết" (節), nghĩa là đốt, khúc, tức một mốc trong năm. Vì vậy ngoài Tết Nguyên đán còn có Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu, Tết Hàn thực. Trong văn khấn, chữ "tiết" được giữ nguyên, ví dụ "tiết Nguyên đán", "tiết Thượng nguyên". Hiểu điều này, bạn sẽ không ngạc nhiên khi bản khấn Tết lại viết "tiết" thay vì "Tết".
Giờ khắc trong văn khấn: giờ Tý, chính ngọ và các cách ghi khác
Đêm giao thừa thường được gắn với giờ Tý, khoảng từ 23 giờ đến 1 giờ sáng. Một số bản khấn ghi rõ "giờ Tý", "chính Tý" (đúng giờ Tý), có bản chỉ ghi "phút giao thừa". Trong dân gian có hai cách hiểu: giao thừa là đúng nửa đêm 0 giờ, hoặc là cả khoảng giờ Tý. Điều này khiến có nhà cúng trước 0 giờ một chút, có nhà cúng ngay sau. Sách văn khấn phổ biến không bắt buộc cách nào.
Văn khấn ban ngày ít ghi giờ, nhưng khi có, người ta dùng tên 12 canh giờ: Mão (khoảng 5–7 giờ sáng), Thìn (7–9 giờ), Tỵ (9–11 giờ), Ngọ (11–13 giờ). "Chính ngọ" là đúng trưa. Lễ cúng sáng mùng Một nhiều nhà làm vào giờ Thìn hoặc giờ Tỵ, nhưng việc này tuỳ nếp, không phải điều kiện của lễ.
Có một chi tiết khiến người ở nước ngoài hay hỏi: giờ giao thừa tính theo giờ nơi mình đang ở hay giờ Việt Nam. Văn khấn không quy định chuyện này, nên các gia đình tự chọn. Phần lớn chọn giờ địa phương nơi đang sống, coi đó là giao thừa "của nhà mình", và ghi ngày âm lịch tương ứng. Quan trọng là nhất quán từ năm này sang năm khác để con cháu dễ theo.
Câu hỏi thường gặp
Trừ tịch và giao thừa khác nhau thế nào?
Trừ tịch là cả đêm cuối cùng của năm âm lịch, tức đêm ba mươi hoặc hai mươi chín tháng Chạp. Giao thừa là khoảnh khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới trong đêm ấy. Vì vậy lễ cúng lúc nửa đêm có sách gọi là lễ trừ tịch, có sách gọi là lễ giao thừa, cùng chỉ một việc.
"Chính nguyệt sơ nhất nhật" nghĩa là gì?
Đây là cách ghi ngày mùng Một tháng Giêng theo lối Hán Việt: "chính nguyệt" là tháng Giêng, "sơ nhất" là ngày thứ nhất trong mười ngày đầu tháng, "nhật" là ngày. Cụm này hay xuất hiện trong văn khấn sáng mùng Một và trong câu đối, thiếp chúc Tết cổ.
Tháng Chạp sao lại gọi là lạp nguyệt?
Chữ "lạp" chỉ lễ tế cuối năm thời cổ, tế thần và tổ tiên sau mùa thu hoạch. Tháng có lễ lạp nên gọi là lạp nguyệt. Người Việt đọc chệch thành "Chạp", từ đó có "tháng Chạp", "giỗ Chạp", "chạp mả". Văn khấn cổ hay ghi "lạp nguyệt" hoặc "thập nhị nguyệt".
Năm có tháng Chạp thiếu thì ghi đêm giao thừa là ngày bao nhiêu?
Khi tháng Chạp chỉ có 29 ngày, đêm trừ tịch là đêm 29, văn khấn ghi "ngày hai mươi chín tháng Chạp" hoặc "lạp nguyệt nhị thập cửu nhật". Không nên ghi ngày ba mươi vì năm đó không có ngày ba mươi. Lịch âm treo tường sẽ cho bạn biết tháng đủ hay thiếu.
Văn khấn tất niên ghi năm cũ hay năm mới?
Ghi năm cũ, vì lễ tất niên diễn ra trước giao thừa, khi năm cũ chưa hết. Bài khấn rước ông bà chiều ba mươi cũng ghi năm cũ. Từ sáng mùng Một trở đi mới ghi năm mới. Riêng bài khấn đúng lúc giao thừa, sách in có hai cách, gia đình chọn một cách và giữ đều.
Có cần dùng chữ Hán Việt khi khấn không, hay nói tiếng Việt thường được?
Không bắt buộc. Rất nhiều gia đình khấn nôm, nói bằng lời Việt thường: hôm nay là ngày ba mươi tháng Chạp năm…, con cháu xin kính mời ông bà… Chữ Hán Việt giúp lời khấn trang trọng và theo nếp cũ, nhưng hiểu được nghĩa mới là điều cốt lõi. Bài này giúp bạn hiểu để tự chọn.