Thơ Tết của Tú Xương là tiếng cười cuối năm của một nhà nho nghèo ở thành Nam: bài Chúc Tết (còn được in với nhan đề Năm mới chúc nhau) giễu những lời chúc sáo rỗng bằng điệp khúc "Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau", còn những câu đối Tết của ông vừa tự trào cái nghèo vừa châm biếm thói đời. Đằng sau tiếng cười là nỗi buồn của một người tài hoa gặp thời thế đổi thay.
Bài viết giới thiệu ngắn về Tú Xương, đọc kỹ bài Chúc Tết và một câu đối Tết thường được chép là của ông, rồi nói về cái Tết trong thơ ông và cách đọc ông hôm nay. Tú Xương mất năm 1907 nên tác phẩm đã thuộc về công chúng, nhưng thơ ông truyền miệng nhiều, có dị bản; bài chỉ trích những câu phổ biến, ổn định, và ghi rõ theo bản lưu hành rộng rãi.
Tú Xương: nhà nho thành Nam với tám lần lều chõng
Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, sinh năm 1870 và mất năm 1907, quê ở thành Nam, tức Nam Định cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sắp xếp năm 2025. Ông đi thi Hương tám lần nhưng chỉ đỗ tú tài, nên người đời quen gọi là ông Tú, rồi thành Tú Xương. Cuộc đời ông ngắn ngủi, nghèo khó, phần lớn nhờ vào sự tần tảo của bà Tú.
Ông sống vào lúc chữ Nho đang mất dần vị thế và đô thị thành Nam đổi thay nhanh dưới thời thuộc địa. Những giá trị cũ lung lay, lối sống thực dụng mới xuất hiện, và một nhà nho nghèo như ông đứng giữa hai thế giới. Hoàn cảnh ấy sinh ra giọng thơ vừa trào phúng sắc sảo vừa trữ tình sâu lắng mà nhiều thế hệ yêu mến.
Thơ Tú Xương có cả chữ Nôm lẫn câu đối, phần lớn được lưu truyền qua trí nhớ của người đời trước khi được sưu tầm, in thành sách. Vì vậy có những bài mang nhiều dị bản, và cũng có những bài bị gán cho ông mà chưa chắc chắn. Khi đọc thơ Tết của ông, nên dựa vào các tuyển tập đã được nhà nghiên cứu biên soạn.
Tết của nhà nho nghèo đầu thế kỷ hai mươi
Để hiểu tiếng cười Tết của Tú Xương, cần hình dung cái Tết của một nhà nho nghèo thời ấy. Không làm quan, không buôn bán, sống nhờ dạy học hoặc nhờ vợ buôn bán nhỏ, gia đình nhà nho nghèo đón Tết bằng những gì xoay xở được. Trong khi đó, xung quanh là những nhà giàu mới phất lên nhờ buôn bán, thầu khoán, đón Tết linh đình, đốt pháo inh ỏi.
Ngày Tết cũng là dịp người ta khoe khoang: khoe chức tước, khoe của cải, khoe con cái đỗ đạt. Lời chúc Tết vì vậy dễ trở thành nghi thức xã giao, thậm chí là cách nịnh nhau. Một người nhạy cảm, có học và đang ở thế yếu như Tú Xương nhìn thấy rất rõ sự lệch giữa lời nói và thực tế, giữa vẻ ngoài và lòng người.
Thêm vào đó là nỗi buồn riêng của người thi mãi không đỗ. Tết là mốc của một năm, và mỗi năm qua đi là thêm một lần ông nhìn lại con đường khoa cử dang dở. Tiếng cười trong thơ Tết của Tú Xương vì vậy luôn có một lớp buồn bên dưới, thứ khiến người đọc vừa cười vừa thương. Đọc thơ ông mà chỉ thấy tiếng cười là mới đọc được một nửa.
Bài Chúc Tết: điệp khúc "Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau"
Bài thơ mở đầu bằng hai câu nổi tiếng: "Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau: / Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu." Theo bản lưu hành phổ biến, mỗi khổ của bài đều bắt đầu bằng mô thức "Lẳng lặng mà nghe nó chúc…" rồi lần lượt điểm qua những lời chúc quen thuộc ngày đầu năm: chúc sống lâu, chúc giàu, chúc sang, chúc đông con.
Cái hay nằm ở cách Tú Xương đẩy mỗi lời chúc đến chỗ phi lý. Chúc sống lâu ư, vậy thì ai cũng thành cụ già rụng răng, nhà thơ sẽ đi buôn cối giã trầu cho thiên hạ. Chúc giàu, chúc sang ư, thì tiền bạc, chức tước sẽ thừa đến mức nực cười. Bằng cách đó, bài thơ không chế giễu ước muốn chính đáng của con người mà chế giễu lối chúc tụng rỗng tuếch, khách sáo, và cả sự chạy theo danh lợi thời ấy.
Đại từ "nó" trong điệp khúc là một chi tiết đáng chú ý. Người nói đứng ra ngoài đám đông, lặng lẽ nghe người ta chúc nhau, rồi bình luận bằng giọng giễu cợt. Chữ "nó" tạo khoảng cách và sự coi nhẹ, một cách nói rất Tú Xương: không gay gắt mà thấm.
Về hình thức, bài thơ dùng lối điệp cấu trúc: cùng một câu mở, mỗi khổ thay một lời chúc, rồi kết bằng một hình ảnh phóng đại. Lối lặp này dễ thuộc, dễ truyền miệng, nên bài thơ sống được rất lâu trong dân gian. Khi đọc to, nhịp điệp khúc tạo hiệu ứng như một tràng cười lặp lại, mỗi lần một to hơn.
Câu đối Tết: tự trào cái nghèo và châm biếm thói đời
Ngoài bài Chúc Tết, Tú Xương còn để lại nhiều câu đối, trong đó có những câu viết dịp Tết. Một câu đối Tết thường được chép là của ông có hai vế: "Thiên hạ xác rồi còn đánh pháo / Nhân tình trắng thế lại bôi vôi." Chữ "xác" vừa chỉ xác pháo vừa chỉ cảnh xác xơ, nghèo kiệt; chữ "trắng" vừa chỉ màu vôi quét nhà ngày Tết vừa chỉ lòng người bạc bẽo.
Câu đối dùng lối chơi chữ hai nghĩa đặc trưng của văn chương Nôm. Bề ngoài là cảnh chuẩn bị Tết quen thuộc, đánh pháo và quét vôi, bên trong là lời nhận xét chua chát về một xã hội nghèo mà vẫn phô trương, tình người thì nhạt. Đọc lên vừa buồn cười vừa đau.
Nhiều câu đối, bài thơ khác của ông xoay quanh cái nghèo ngày Tết: nhà không có gì đón Tết, nợ nần cuối năm, vợ con thiếu thốn. Ông thường tự cười mình trước khi cười người, và chính sự tự trào ấy làm tiếng cười của ông không cay nghiệt. Vì câu đối truyền miệng nhiều dị bản, khi trích nên ghi "thường được chép là của Tú Xương" nếu không có nguồn sách chắc chắn.
Cái Tết trong thơ Tú Xương có gì khác thơ Tết thường gặp
Không tô hồng. Thơ Tết thường vẽ cảnh sum vầy, đủ đầy. Tết trong thơ Tú Xương lại có nợ, có nghèo, có sự phô trương rỗng của người đời. Ông nhìn Tết bằng con mắt của người đứng ở rìa.
Tiếng cười là chính. Phần lớn thơ Tết của ông dùng giọng trào phúng: điệp khúc, phóng đại, chơi chữ, lời nói ngược. Tiếng cười giúp nói được những điều khó nói thẳng.
Bóng dáng bà Tú. Người vợ tần tảo, lo toan cho cả nhà, là nhân vật thầm lặng trong nhiều bài thơ của ông, kể cả lúc cuối năm. Bài Thương vợ nổi tiếng không viết về Tết nhưng giúp hiểu vì sao Tết của nhà ông Tú lại nhiều nỗi lo đến thế.
Thành Nam cuối năm. Thơ ông ghi lại không khí đô thị thành Nam xưa với phố phường, chợ búa, những thói quen đón Tết của cả người giàu lẫn người nghèo. Đó cũng là tư liệu quý về một đô thị Bắc Bộ đầu thế kỷ hai mươi.
Tiếng cười tự trào. Ông thường đặt chính mình vào trò cười: anh học trò thi hỏng, người chồng ăn lương vợ, kẻ không có gì đón Tết. Tự cười mình trước rồi mới cười đời là cách giữ tiếng cười khỏi trở thành cay độc, và cũng là lý do người đọc thấy ông gần gũi.
Đọc thơ Tết Tú Xương hôm nay
Hơn một thế kỷ trôi qua, những lời chúc Tết vẫn còn đó: chúc sống lâu, chúc giàu có, chúc thăng tiến, chúc con đàn cháu đống. Đọc bài Chúc Tết của Tú Xương, người hôm nay có thể bật cười vì thấy mình trong đó, những tin nhắn chúc Tết gửi hàng loạt, giống nhau đến từng chữ. Tiếng cười ấy nhắc rằng lời chúc có giá trị khi chân thành và hợp với người nhận.
Thơ ông cũng nhắc rằng Tết không phải ai cũng vui. Có những người nghèo, những người thất thế, những người cô đơn giữa không khí rộn ràng. Nhìn thấy họ, như Tú Xương đã nhìn, là một cách đón Tết có lòng hơn.
Với học sinh, thơ Tết của Tú Xương là ví dụ tốt để hiểu thơ trào phúng: điệp khúc tạo nhịp, phóng đại tạo cười, chơi chữ tạo nghĩa kép. Khi phân tích, nên chỉ ra cụ thể biện pháp nào, ở câu nào, tạo hiệu quả gì, và đặt tiếng cười trong bối cảnh xã hội đầu thế kỷ hai mươi thay vì chỉ khen chung là sâu sắc.
Gợi ý tìm đọc và trích dẫn đúng
Thơ Tú Xương có trong nhiều tuyển tập văn học trung đại và các bộ sách giáo khoa. Nên tìm đọc những tuyển tập có phần chú giải, khảo dị, vì ở đó người biên soạn ghi rõ dị bản và những bài còn nghi vấn tác giả. Đọc chú giải giúp hiểu các từ cổ, các điển cố và lối chơi chữ mà người hôm nay dễ bỏ qua.
Khi trích dẫn trong bài viết hay lời chúc, hãy ghi tên tác giả và nhan đề theo bản mình dùng. Với những câu đối truyền miệng, nếu không có nguồn sách đáng tin, hãy thận trọng, ghi là thường được chép là của Tú Xương. Mạng xã hội có nhiều câu được gán cho ông mà không có căn cứ, nhất là vào dịp Tết.
Nếu muốn giới thiệu Tú Xương cho con trẻ, bài Chúc Tết là lựa chọn hợp vì vui, dễ nhớ, dễ hiểu sau một chút giải thích. Đọc cùng con vào dịp đầu năm, rồi hỏi con xem lời chúc nào mình thật sự muốn gửi cho ông bà, là một cách biến bài thơ trào phúng thành bài học nhỏ về sự chân thành.
Câu hỏi thường gặp
Tú Xương là ai?
Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương (1870–1907), nhà thơ quê ở thành Nam, tức Nam Định cũ. Ông đi thi Hương tám lần, chỉ đỗ tú tài, nên được gọi là ông Tú. Thơ ông nổi tiếng với giọng trào phúng sắc sảo và trữ tình sâu lắng.
Bài Chúc Tết của Tú Xương có ý nghĩa gì?
Bài thơ giễu những lời chúc Tết sáo rỗng như chúc sống lâu, chúc giàu, chúc sang bằng cách đẩy chúng tới chỗ phi lý. Qua đó nhà thơ phê phán lối chúc tụng khách sáo và sự chạy theo danh lợi trong xã hội đương thời.
"Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau" thuộc bài thơ nào?
Câu thơ mở đầu bài thơ của Tú Xương thường được in với nhan đề Chúc Tết hoặc Năm mới chúc nhau. Câu tiếp theo theo bản phổ biến là "Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu". Mô thức "Lẳng lặng mà nghe nó chúc…" lặp lại ở các khổ sau.
Câu đối "Thiên hạ xác rồi còn đánh pháo" có nghĩa gì?
Câu đối chơi chữ hai nghĩa: "xác" vừa là xác pháo vừa là xác xơ; "trắng" ở vế sau vừa là màu vôi vừa là lòng người bạc. Ý chung là châm biếm cảnh đời nghèo mà vẫn phô trương, tình người thì nhạt nhẽo. Câu này thường được chép là của Tú Xương.
Vì sao thơ Tú Xương có nhiều dị bản?
Phần lớn thơ ông được lưu truyền bằng trí nhớ và truyền miệng trước khi được sưu tầm in thành sách. Qua nhiều người chép lại, câu chữ có chỗ khác nhau, và có bài bị gán nhầm. Vì vậy nên đọc tuyển tập có khảo dị và chú giải của nhà nghiên cứu.
Thành Nam ngày nay ở đâu?
Thành Nam là cách gọi cũ của thành phố Nam Định. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, vùng này thuộc tỉnh Ninh Bình. Quê Tú Xương ở làng Vị Xuyên của thành Nam xưa, nơi ngày nay vẫn còn những dấu tích gắn với tên ông.