Ngày mùng Một Tết của nhà xưa thường diễn ra theo một nhịp khá cố định: sau lễ giao thừa là nghỉ ngơi, sáng sớm dâng trà lên gia tiên, cả nhà mặc áo mới chúc Tết ông bà theo thứ bậc, đón người xông đất, trưa ăn cỗ, chiều ra đình chùa hoặc sang nhà họ nội. Đó là ngày chủ yếu dành cho trong nhà và họ nội, ít ai đi xa. Mỗi miền, mỗi nhà có khác chút ít, nhưng cái khung chung ấy được nhiều thế hệ nhắc lại.
Bài này kể lại một ngày mùng Một như những người lớn tuổi thường tả, từ khoảnh khắc sau giao thừa đến lúc lên đèn buổi tối, kèm những khác biệt ba miền. Các tục riêng như xông đất, xuất hành, mừng tuổi đã có bài riêng, ở đây chỉ đặt chúng vào đúng vị trí trong dòng chảy của một ngày.
Sau giao thừa: khoảng lặng ngắn trước ngày mới
Lễ giao thừa xong, pháo ngày xưa nổ ran khắp làng rồi tắt dần, khói pháo còn vương mùi hăng hắc. Trẻ con đã ngủ gục từ trước, chỉ người lớn còn thức. Ở nhiều nhà, người cha hoặc ông nội ra sân, có khi đi một vòng xuất hành ngắn, có khi chỉ đứng nhìn trời. Người mẹ dọn mâm lễ, cất đồ, rồi cả nhà đi ngủ muộn.
Có nhà đi lễ chùa ngay sau giao thừa, hái một cành lộc mang về cắm lên bàn thờ. Có nhà ở lại canh nồi bánh chưng nếu chưa vớt kịp. Ở Nam Bộ, nhiều gia đình tụ lại trước hiên ăn bánh mứt, uống trà, nói chuyện đến khuya. Dù làm gì, khoảng thời gian sau giao thừa thường thong thả, không ai vội vàng, vì người ta tin năm mới nên bắt đầu bằng sự yên ổn.
Đây cũng là lúc nhiều nhà đốt một nén trầm, để mùi hương lan trong căn nhà vừa được dọn dẹp tinh tươm. Ánh đèn dầu, đèn nến trên bàn thờ được giữ sáng suốt đêm. Người lớn tuổi hay nói đó là đêm duy nhất trong năm cả nhà cùng thức, cùng ngồi với tổ tiên.
Sáng sớm: ấm trà đầu năm và lễ gia tiên
Sáng mùng Một, người lớn dậy sớm hơn ngày thường. Việc đầu tiên trong nhiều nhà Bắc Bộ là pha một ấm trà mới, rót chén đầu tiên dâng lên bàn thờ gia tiên. Chén trà đầu năm vừa là lễ vừa là lời chào tổ tiên trong buổi sáng của năm mới. Người miền Trung, miền Nam cũng có nếp dâng trà, có nhà dâng thêm nước sạch, trầu cau.
Sau đó là lễ gia tiên buổi sáng, có nhà làm lễ chay, có nhà làm cỗ mặn, tuỳ nếp. Người chủ lễ thắp hương, khấn mời tổ tiên chứng giám cho năm mới, cả nhà đứng phía sau theo thứ bậc. Chi tiết mâm lễ mỗi nhà một khác, điều chung là không khí trang nghiêm và sự có mặt đông đủ của con cháu.
Trước giờ lễ, ai cũng đã tắm rửa, mặc áo mới. Trẻ con được dặn từ tối hôm trước: sáng mai không khóc, không mè nheo, không tranh nhau đồ. Những lời dặn ấy không phải để doạ mà để cả nhà cùng giữ một buổi sáng êm đềm. Nhiều người lớn tuổi nhớ nhất cái cảm giác mặc áo mới đứng sau lưng bố mẹ trong làn khói hương, lần đầu tiên thấy mình được tham dự một việc người lớn.
Chúc Tết theo thứ bậc và mừng tuổi
Ông bà ngồi trên sập, con cháu đứng trước. Ở nhiều nhà Bắc Bộ, sau lễ gia tiên, ông bà ngồi ở sập gụ hay giường giữa nhà. Con trai trưởng đứng ra chúc trước, sau đó lần lượt các con, các cháu theo thứ tự tuổi tác. Lời chúc ngắn, thường là sức khoẻ, sống lâu.
Ông bà chúc lại và mừng tuổi. Ông bà chúc con cháu làm ăn, học hành, rồi mừng tuổi từng đứa cháu. Trước khi có phong bao đỏ, tiền được gói trong giấy hồng điều hoặc trao tận tay kèm một câu dặn.
Cha mẹ mừng tuổi con. Sau phần ông bà là đến cha mẹ. Mỗi đứa trẻ cầm phong bao nhỏ, chạy đi khoe anh chị em. Đó là khoảnh khắc ồn ào, vui vẻ nhất của buổi sáng.
Ở miền Trung, miền Nam. Thứ tự tương tự nhưng không khí có phần thoải mái hơn ở Nam Bộ: con cháu quây quần quanh bàn, chúc Tết rồi nhận lì xì ngay tại bàn ăn sáng. Ở Huế, nếp chúc thọ ông bà được giữ khá trang trọng, con cháu có khi lạy chứ không chỉ cúi chào.
Người xông đất và những vị khách đầu tiên
Khoảng giữa buổi sáng là lúc người xông đất đến, nếu nhà có mời. Người ấy mang ít quà, chúc Tết, mừng tuổi trẻ con, ngồi một tuần trà rồi về. Sau đó họ hàng gần, hàng xóm thân bắt đầu qua lại. Ngày mùng Một ít khi đón khách xa, chủ yếu là người trong họ, trong xóm.
Bàn tiếp khách ngày mùng Một bày khay mứt, đĩa hạt dưa, ấm trà, có nhà thêm chai rượu ngọt. Người Bắc hay có mứt sen, mứt gừng, mứt bí; người Huế có mứt gừng, mứt me, bánh in; người Nam có mứt dừa, mứt me, hạt dưa, kẹo đậu phộng. Khách ngồi lâu hay chóng tuỳ thân sơ, nhưng câu chuyện đầu năm luôn là chuyện vui, chuyện mùa màng, chuyện con cháu học hành.
Người chủ nhà ngày mùng Một vì thế khá bận, vừa tiếp khách vừa trông bếp. Những nhà đông con thường phân công: người lớn ngồi tiếp, người trẻ pha trà, rót nước, trẻ con chào khách rồi ra sân chơi. Một buổi sáng như vậy dạy trẻ con nhiều phép tắc hơn cả tháng ngồi nghe giảng.
Khách đến chúc Tết thường mang theo chút quà cầm tay, chủ nhà cũng gói ít bánh mứt gửi lại. Nếu bạn cần ý tưởng cho những món nhỏ ấy, gợi ý quà Tết có trên Vật Phẩm Phong Thủy.
Bữa cỗ trưa mùng Một ba miền
Bữa trưa mùng Một thường là bữa cỗ đầu tiên của năm mới, dọn ra sau khi lễ gia tiên. Bảng dưới gom những món thường được nhắc trong ký ức ba miền; mâm cỗ thật của mỗi nhà phong phú hơn nhiều.
| Miền | Món thường thấy | Nét riêng của bữa cỗ |
|---|---|---|
| Bắc Bộ | Bánh chưng, giò lụa, thịt đông, dưa hành, canh măng, nem rán, xôi gấc | Mâm vuông vức, đủ bát đủ đĩa, ăn chậm, nói chuyện nhiều |
| Trung Bộ | Bánh tét hoặc bánh chưng, tré, nem chua, dưa món, thịt heo ngâm mắm | Đậm vị mặn, cay; nhiều món để được lâu qua mấy ngày Tết |
| Nam Bộ | Bánh tét, thịt kho hột vịt, canh khổ qua nhồi thịt, dưa giá, củ kiệu tôm khô | Nồi thịt kho nấu từ trước, ăn suốt mấy ngày, không khí xởi lởi |
Điều chung của ba miền là bữa cỗ mùng Một ít khi nấu mới nhiều, phần lớn món đã chuẩn bị từ những ngày cuối năm. Người nội trợ nhờ vậy được nghỉ tay, đó cũng là một ý nghĩa thực tế của những món ăn để lâu ngày Tết.
Sau bữa cỗ, nhiều nhà để nguyên mâm bánh mứt trên bàn cả buổi chiều, ai đến thì mời. Bát đĩa được rửa qua loa, nồi niêu để đó, việc dọn dẹp lớn dời sang những ngày sau. Nhịp chậm ấy chính là điều làm nên cảm giác Tết.
Mùng Một ở phố: cửa hàng đóng cửa, phố xá vắng lặng
Ở các đô thị xưa như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, ngày mùng Một có một không khí rất riêng: phố xá vắng lặng lạ thường. Cửa hàng đóng cửa, người buôn bán nghỉ ngơi, ai về quê thì đã về từ trước. Người còn ở lại phố là những gia đình gốc phố, những nhà buôn có cửa hiệu lâu đời. Họ cũng giữ nếp lễ gia tiên, chúc Tết, đón khách như ở làng, chỉ khác là không gian hẹp hơn.
Nhà buôn ở phố thường đóng cửa hiệu đến mùng Hai, mùng Bốn hoặc mùng Sáu mới mở hàng lại, tuỳ ngày họ chọn. Sáng mùng Một, chủ hiệu có khi mở hé cửa thắp hương ban thờ Thần Tài, Thổ Địa trong cửa hàng, rồi đóng lại. Con phố buôn bán sầm uất quanh năm chỉ còn tiếng pháo xa xa và mùi hương trầm từ các nhà.
Trẻ con phố cũng có thú riêng: đi theo bố mẹ chúc Tết các nhà trong phố, ra hồ, ra đền gần nhà, xem múa lân nếu có. Ở Chợ Lớn, những đội lân của các hội quán đi biểu diễn trước cửa hiệu từ những ngày đầu năm. Ký ức mùng Một của người phố vì thế xen lẫn tĩnh lặng và náo nhiệt, khác hẳn sự êm đềm của làng quê.
Buổi chiều và buổi tối: ra đình, sang nhà họ nội, quây quần
Buổi chiều mùng Một, đàn ông trong làng thường ra đình lễ Thành hoàng và gặp nhau đầu năm, phụ nữ có khi lên chùa. Con cháu sang nhà các chú các bác trong họ nội chúc Tết. Trẻ con tụ tập ngoài sân đình, ngõ xóm, chơi ô ăn quan, đánh khăng, nhảy dây, khoe nhau áo mới, tiền mừng tuổi. Người lớn tuổi ngồi với nhau, có khi chơi tam cúc cho vui tay.
Tối đến, cả nhà quây quần lại bên mâm cơm đơn giản, phần lớn là thức ăn còn lại từ cỗ trưa. Người lớn thắp hương tối trên bàn thờ, kể cho nhau nghe ai đã đến chúc Tết, ai chưa đến, mai đi đâu. Ngày mùng Một khép lại sớm hơn những ngày khác vì ai cũng đã thức khuya đêm giao thừa.
Những gì diễn ra trong ngày mùng Một được nhiều người lớn tuổi nhớ rõ hơn cả những ngày sau. Có lẽ vì nó có trật tự, có nghi lễ, có cảm giác mọi thứ đều mới: áo mới, tiền mới, năm mới, lời chúc mới. Kể lại cho con cháu nghe về một ngày như thế cũng là một cách giữ Tết xưa trong nhà.
Câu hỏi thường gặp
Sáng mùng Một Tết nhà xưa thường làm gì đầu tiên?
Nhiều nhà bắt đầu bằng việc pha ấm trà mới dâng lên bàn thờ gia tiên, sau đó làm lễ gia tiên buổi sáng. Cả nhà mặc áo mới, đứng theo thứ bậc. Xong lễ mới đến phần chúc Tết ông bà và mừng tuổi.
Mùng Một Tết người xưa có đi chơi xa không?
Hầu như không. Mùng Một là ngày dành cho trong nhà và họ nội, người ta chỉ đi đình chùa gần nhà hoặc sang nhà chú bác. Việc đi thăm bên ngoại, thầy cô và bạn bè dành cho những ngày sau.
Bữa cỗ mùng Một khác những bữa Tết khác thế nào?
Đó là bữa cỗ đầu tiên của năm, dọn ra sau lễ gia tiên, thường đông đủ nhất. Phần lớn món được làm từ cuối năm nên người nội trợ không phải nấu nhiều. Ba miền có món đặc trưng khác nhau.
Ngày mùng Một Tết ở Huế có gì riêng?
Nhiều gia đình Huế giữ nếp chúc thọ ông bà khá trang trọng, con cháu có khi lạy chứ không chỉ cúi chào. Bàn tiếp khách có mứt gừng, bánh in, mứt me, không khí kín đáo, chừng mực.
Trẻ con ngày mùng Một xưa làm gì?
Trẻ con dậy sớm mặc áo mới, đứng sau bố mẹ trong lễ gia tiên, chúc Tết ông bà rồi nhận tiền mừng tuổi. Buổi chiều chúng tụ tập ở sân đình, ngõ xóm chơi ô ăn quan, đánh khăng, nhảy dây và khoe áo mới.
Có cần làm đúng trình tự như nhà xưa không?
Không cần. Trình tự trên là cách nhiều gia đình xưa thường làm, mỗi nhà có thể giữ phần hợp với mình. Điều quý nhất của ngày mùng Một vẫn là cả nhà có mặt đông đủ và dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp.