Tết làng quê Bắc Bộ xưa là một chuỗi việc cả làng cùng làm trong tháng Chạp: tát ao chia cá, mấy nhà chung nhau mổ một con lợn, giã giò, gói và luộc bánh chưng, đi phiên chợ cuối năm, quét dọn nhà cửa, đường làng. Ngày Tết là phần thưởng sau một năm làm lụng, nên người ta chuẩn bị bằng chính sức lao động của mình hơn là bằng tiền.
Bài này đi lần lượt qua những việc ấy theo lời kể phổ biến của người lớn lên ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong thế kỷ trước, ở những vùng nay thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Phòng, Phú Thọ và các tỉnh lân cận. Mỗi làng có lệ riêng, nên những gì dưới đây là bức tranh chung, không phải khuôn mẫu của một làng cụ thể nào.
Tháng Chạp ở làng: mùa nông nhàn và mùa chuẩn bị
Ở đồng bằng Bắc Bộ, tháng Chạp thường là lúc công việc đồng áng tạm vãn. Lúa chiêm đã cấy hoặc chờ cấy, người làng có thời gian lo Tết. Câu nói quen "Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo" diễn tả đúng tâm trạng ấy: người già mong Tết để con cháu sum họp, còn người lớn trong nhà lo xoay xở cho đủ đầy.
Việc chuẩn bị bắt đầu từ những thứ phải trồng, phải nuôi từ trước: con lợn được vỗ béo từ giữa năm, ao cá được thả từ mùa trước, ruộng nếp, vườn dong, khóm hành, luống cải để muối dưa. Gạo nếp, đậu xanh, lá dong phần lớn nhà tự có hoặc đổi với hàng xóm. Tiền mặt chỉ dùng cho những thứ không tự làm được: vải may áo, chút đường, chè, pháo, tranh.
Trong làng, tháng Chạp còn là lúc dọn dẹp chung: phát quang đường làng, nạo vét mương, sửa sang đình làng chuẩn bị lễ đầu năm. Ngày tảo mộ cuối năm, con cháu ra đồng làm cỏ, đắp lại mộ ông bà. Những việc ấy gắn người trong làng với nhau và với tổ tiên, trước khi Tết thật sự bắt đầu.
Nhà cửa đón Tết: quét vôi, dán tranh, lau bàn thờ
Nhà quê Bắc Bộ xưa phần nhiều là nhà tranh vách đất hoặc nhà gạch mái ngói ba gian, hai chái. Cuối năm, người ta quét lại vôi tường, trát chỗ vách nứt, lợp lại chỗ mái dột, thay phên cửa nếu đã mục. Sân gạch hoặc sân đất được quét sạch, rơm rạ xếp gọn vào một góc. Nhà nghèo đến đâu cũng cố cho căn nhà sạch sẽ khi bước sang năm mới.
Gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên. Bát hương được lau, chân nến, đỉnh đồng nếu có được đánh bóng. Một số nhà rút tỉa chân hương vào những ngày cuối năm theo nếp riêng của dòng họ. Hai bên bàn thờ có thể dán đôi câu đối giấy đỏ mua ở chợ phiên hoặc xin của ông đồ trong làng; chuyện câu đối và ông đồ được bàn ở những trang chuyên về chữ nghĩa ngày Tết.
Trên vách, nhiều nhà dán một vài bức tranh dân gian mới, thay cho tranh năm cũ đã bạc màu vì khói bếp. Tranh gà, tranh lợn, tranh em bé ôm gà là những đề tài quen. Ánh đèn dầu ban đêm chiếu lên những bức tranh mới dán khiến gian nhà như sáng hơn. Đối với trẻ con, cái mùi vôi mới quét, mùi giấy tranh, mùi khói bếp trộn với nhau chính là mùi Tết.
Tát ao chia cá và đụng lợn: những việc làm chung cuối năm
Tát ao. Gần Tết, ao làng hoặc ao chung của mấy nhà được tát cạn để bắt cá. Người lớn dùng gầu sòng, gầu dai tát nước, trẻ con lội bùn bắt cá, tiếng cười ồn ã cả xóm. Cá được chia theo phần đóng góp, nhà nào cũng có vài con cá chép, cá trắm để kho, để làm gỏi hoặc để dành ngày Tết.
Đụng lợn. Một con lợn quá lớn với một nhà, nên mấy nhà góp tiền mua chung hoặc đổi công nuôi chung, đến gần Tết thì mổ và chia nhau thịt, gọi là đụng lợn. Phần thịt mỗi nhà được chia theo tỷ lệ góp, kèm lòng, xương, mỡ. Buổi mổ lợn thường làm từ sáng sớm, cả xóm đến xem, xong có bữa cháo lòng chung.
Giã giò. Thịt nạc nóng được giã bằng chày gỗ trong cối đá cho đến khi dẻo mịn, rồi trộn nước mắm, gói lá chuối, luộc chín. Giã giò là việc nặng, thường do đàn ông thay phiên nhau. Tiếng chày giã giò thình thịch là âm thanh đặc trưng của những ngày giáp Tết ở làng.
Làm dưa hành, muối cà. Hành củ được ngâm, bóc, muối từ khoảng giữa tháng Chạp để kịp chua đúng Tết. Dưa cải, cà pháo cũng muối sẵn. Thịt mỡ đi với dưa hành là cặp đôi quen thuộc trong câu đối Tết dân gian và trong mâm cơm nhà quê.
Gói và luộc bánh chưng ở làng quê xưa: từng bước trong ký ức
Việc gói bánh chưng thường diễn ra vào khoảng hai mươi sáu đến hai mươi tám tháng Chạp. Trình tự dưới đây là cách nhiều nhà nông thôn Bắc Bộ làm, theo lời kể phổ biến:
- Từ mấy hôm trước: chặt lá dong ngoài vườn, rửa từng tàu lá, lau khô, tước bớt sống lá; chẻ lạt giang hoặc lạt tre, ngâm nước cho mềm.
- Đãi gạo nếp, ngâm qua đêm; đậu xanh ngâm, đồ hoặc để sống tuỳ nhà; thịt ba chỉ thái miếng, ướp muối, hạt tiêu, hành.
- Gói bánh: người khéo nhất nhà gói bằng tay không hoặc dùng khuôn gỗ vuông; trẻ con được gói những chiếc bánh nhỏ của riêng mình.
- Xếp bánh vào nồi lớn, thường là nồi đồng hoặc thùng phuy, lót cuống lá dong dưới đáy, đổ ngập nước, đặt lên bếp củi ngoài sân.
- Luộc thâu đêm, khoảng mười tiếng hoặc hơn tuỳ cỡ bánh và lửa; thỉnh thoảng thêm nước sôi để bánh luôn ngập.
- Vớt bánh, rửa qua nước lạnh, ép bằng vật nặng cho ráo nước và chắc bánh, rồi xếp lên chạn hoặc bàn thờ.
Đêm canh nồi bánh là ký ức đẹp nhất của nhiều người lớn lên ở nông thôn: cả nhà ngồi quanh bếp lửa, nướng khoai, kể chuyện, trẻ con ngủ gục bên đống rơm. Câu chuyện về gốc tích bánh chưng và ý nghĩa của nó được bàn ở danh mục món Tết; ở đây chỉ giữ lại hình ảnh nồi bánh như một trung tâm của Tết làng.
Phiên chợ Tết quê: chợ cuối năm và chợ mua cho vui
Làng quê Bắc Bộ xưa thường có chợ họp theo phiên, mỗi tháng mấy phiên cố định. Phiên chợ cuối cùng trước Tết là phiên đông nhất, người đi chợ không chỉ để mua bán mà để ngắm, để gặp người quen. Có những thứ chỉ phiên chợ Tết mới có: tranh dân gian, câu đối, pháo, đồ chơi bằng đất nung, bánh kẹo.
Bà và mẹ đi chợ sắm những thứ nhà không tự làm được: một chút miến, măng, nấm hương, hạt tiêu, chè, một ít hoa quả bày Tết, giấy hồng điều. Trẻ con được dắt theo để mua một đôi dép mới, một bộ quần áo, hay chỉ để ăn một bát bánh đúc. Người lớn tuổi thì đi chợ mua một bức tranh gà lợn hay một đôi câu đối mang về dán.
Bài thơ "Chợ Tết" của Đoàn Văn Cừ là một trong những bức tranh sinh động nhất về phiên chợ quê cuối năm, được bàn ở danh mục văn chương của trang. Còn chuyện chợ Tết như một tục, một phiên chợ có nếp riêng, có bài trong danh mục chợ Tết. Ở đây chỉ cần nhớ rằng đi chợ Tết, với người nhà quê xưa, là một niềm vui hiếm hoi trong năm.
Ba ngày Tết ở làng: thăm họ hàng, ra đình, vui xuân
Chiều ba mươi, nhà nào cũng đã xong việc, quét sạch sân, dựng cây nêu nếu có, thắp hương mời ông bà về ăn Tết. Cây nêu và chuyện mời ông bà có bài riêng ở những trang khác; ở làng, đó là lúc không khí Tết lắng xuống, cả nhà ngồi ăn bữa cơm tất niên trong ánh đèn dầu.
Mấy ngày đầu năm là ngày đi lại. Con cháu đến chúc Tết ông bà, cha mẹ, chú bác trong họ; người làng đi thăm nhau. Trẻ con đi theo bố mẹ, được mừng tuổi những đồng tiền mới. Một số làng có lễ ở đình vào đầu năm, các cụ cao tuổi ra đình dự lễ, uống rượu, bàn việc làng.
Hội xuân ở làng mở ra sau Tết, với những cuộc vui như đánh đu, kéo co, đấu vật, hát quan họ ở vùng Kinh Bắc. Những cuộc vui ấy được bàn ở trang chuyên về hội xuân. Ba ngày Tết với người nông dân xưa là quãng nghỉ hiếm hoi, ăn ngon hơn và mặc đẹp hơn ngày thường, trước khi bước vào vụ chiêm xuân.
Tết làng quê hôm nay: còn gì và đã khác ra sao
Nông thôn Bắc Bộ đã thay đổi nhiều. Ao làng nhiều nơi bị lấp, nhiều gia đình không còn nuôi lợn, bánh chưng có thể đặt mua, giò chả có người làm sẵn. Người trẻ đi làm ăn xa, chỉ về quê vài ngày Tết. Tục đụng lợn, tát ao chung ít còn thấy, và nếu còn thì mang nhiều ý nghĩa sum họp hơn là nhu cầu thực phẩm.
Nhưng nhiều nhà vẫn giữ việc gói bánh chưng, vì đó là dịp cả nhà ngồi lại với nhau. Đường làng vẫn được quét dọn trước Tết, mộ ông bà vẫn được thăm. Các làng có nghề như làng tranh, làng bánh, làng hoa vẫn sống nhờ mùa Tết. Phiên chợ quê cuối năm ở nhiều nơi vẫn họp, dù hàng hoá giờ giống chợ thành phố nhiều hơn.
Nếu bạn lớn lên ở thành phố và muốn con mình biết một chút Tết quê xưa, có thể về quê trước Tết vài ngày, cùng ông bà gói bánh, xem người lớn làm giò, ra chợ phiên. Nếu không có quê để về, bạn vẫn có thể gói một nồi bánh nhỏ ở nhà và kể cho con nghe chuyện tát ao, chuyện đụng lợn. Ký ức truyền đi bằng việc làm cùng nhau, không chỉ bằng lời.
Câu hỏi thường gặp
Đụng lợn là gì?
Đụng lợn là cách mấy gia đình góp tiền hoặc góp công chung nhau một con lợn, gần Tết mổ ra rồi chia thịt theo phần đóng góp. Cách này giúp mỗi nhà có thịt ăn Tết mà không phải mua cả con, đồng thời là dịp cả xóm cùng làm, cùng ăn với nhau.
Vì sao ngày xưa làng quê hay tát ao vào dịp Tết?
Cuối năm là lúc nông nhàn, cá trong ao đã lớn sau mấy mùa thả, lại cần thức ăn cho Tết. Tát ao vừa lấy cá, vừa vét bùn ao làm phân bón. Việc làm chung tạo không khí vui vẻ, trẻ con được lội bùn bắt cá là kỷ niệm khó quên.
Luộc bánh chưng ngày xưa mất bao lâu?
Theo lời kể phổ biến, bánh chưng cỡ thường được luộc khoảng mười tiếng hoặc hơn trên bếp củi, thời gian tuỳ kích thước bánh và độ lửa. Người canh phải thêm nước sôi để bánh luôn ngập. Vì vậy việc luộc bánh thường kéo dài qua đêm.
Câu "Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo" có nghĩa gì?
Ông vải là cách gọi ông bà tổ tiên. Câu nói diễn tả hai tâm trạng khi Tết đến gần: người già và tổ tiên mong ngày sum họp, còn người lớn trong nhà phải lo toan chuẩn bị cho đủ đầy. Đây là lời nói vui mà thấm thía về nỗi lo cuối năm.
Phiên chợ Tết ở làng quê xưa có gì khác chợ thường?
Phiên cuối năm đông hơn hẳn, bày bán những món chỉ có dịp Tết như tranh dân gian, câu đối, pháo, đồ chơi đất nung, hoa, bánh kẹo. Người ta đi chợ không chỉ để mua mà để ngắm, gặp người quen, nên phiên chợ Tết mang không khí như một ngày hội.
Có thể cho trẻ thành phố trải nghiệm Tết quê không?
Có. Bạn có thể đưa con về quê trước Tết vài ngày để cùng gói bánh, đi chợ phiên, xem người lớn chuẩn bị. Nếu không có quê, một buổi gói bánh chưng nhỏ ở nhà kèm câu chuyện của ông bà về Tết làng cũng đủ để trẻ cảm nhận.