Hát bài chòi là lối diễn xướng gắn với hội bài chòi, cuộc vui mùa xuân của làng quê miền Trung: người chơi ngồi trong các chòi tre, anh Hiệu rút thẻ bài rồi hát một câu thai có tên con bài, chòi nào đủ thẻ thì "tới". Năm 2017, UNESCO ghi danh "Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam" vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
Hội bài chòi xưa thường mở trong những ngày Tết và tháng Giêng, khi mùa màng đã xong và làng có thời gian rảnh. Bài này kể lại diễn trình một buổi hội, vai anh Hiệu và câu thai, các làn điệu, con đường từ hội chơi đến sân khấu bài chòi, phạm vi di sản theo tên tỉnh thành hiện nay, và cách đi xem bài chòi ngày Tết.
Bài chòi là gì và vì sao gắn với mùa xuân
Tên gọi "bài chòi" ghép từ hai thứ: bộ thẻ bài vẽ hình và những cái chòi tre dựng tạm cho người chơi ngồi. Ở nhiều làng từ vùng Quảng Trị, Huế xuống tới Khánh Hoà, hội bài chòi là sinh hoạt cộng đồng quen thuộc sau vụ mùa, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên đán. Người ta dựng chòi ở bãi đất trống đầu làng, sân đình hay chợ, mở hội từ mùng Một đến hết mùng Bảy, có nơi kéo tới rằm tháng Giêng.
Sức hút của hội không nằm ở chuyện thắng thua mà ở giọng hát của anh Hiệu. Câu thai là câu hát có vần, có khi là ca dao, có khi là lời tự ứng khẩu, dẫn tới tên con bài vừa rút. Người trong chòi chờ nghe để biết thẻ mình có trúng không, người đứng ngoài chờ nghe vì câu hát hay. Một buổi hội vì vậy vừa là cuộc chơi vừa là một đêm diễn dân ca giữa trời.
Hội bài chòi ra đời từ bao giờ thì chưa có mốc chắc chắn. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nó hình thành ở vùng đất Trung Bộ trong quá trình người Việt khai phá phương Nam, từ khoảng thế kỷ 16 trở đi, rồi phát triển mạnh ở các làng ven biển và đồng bằng. Có giả thuyết gắn chòi tre với tục dựng chòi canh rẫy, canh thú, nhưng đó vẫn là cách giải thích dân gian.
Một buổi hội bài chòi diễn ra thế nào
Mỗi địa phương có lệ riêng, số chòi và cách thưởng cũng khác nhau. Trình tự dưới đây là nét chung được nhiều tài liệu mô tả, đủ để người lần đầu đi xem hiểu chuyện gì đang diễn ra.
- Dựng chòi. Thường chín đến mười một chòi tre lợp lá, dựng thành hai dãy đối nhau, ở giữa hoặc ở đầu là chòi cái của ban tổ chức. Chòi cao hơn mặt đất, mỗi chòi vài người ngồi.
- Phát thẻ. Người của ban tổ chức đi phát cho mỗi chòi một số thẻ bài, thường là ba thẻ, rút ngẫu nhiên từ bộ bài.
- Rút thẻ và hát câu thai. Anh Hiệu, hay chị Hiệu, đứng ở khoảng sân giữa các dãy chòi, rút một thẻ trong ống tre, hát một câu thai rồi xướng tên con bài.
- Báo trúng. Chòi nào có con bài trùng thì gõ mõ hoặc hô lên để anh Hiệu biết, người phục vụ chuyền thẻ qua lại giữa chòi và sân.
- Tới. Chòi nào trúng đủ số thẻ đã giữ thì hô "tới", ban tổ chức kiểm lại, trống chiêng nổi lên báo cho cả bãi.
- Thưởng. Chòi tới nhận cờ thưởng và quà theo lệ của làng, có nơi kèm chén rượu mừng xuân. Ván mới bắt đầu bằng một lượt phát thẻ khác.
Vai trò của người tổ chức hội rất quan trọng: làng cử người am hiểu, giữ lệ, chọn anh Hiệu có giọng tốt. Ở những hội lớn, anh Hiệu hát thâu đêm, xen giữa các ván là những đoạn hát dài kể chuyện để giữ khán giả.
Anh Hiệu và câu thai: linh hồn của hội
Anh Hiệu là người vừa điều khiển cuộc chơi vừa là nghệ sĩ chính. Họ phải thuộc hàng trăm câu thai cho từng con bài, đồng thời biết ứng khẩu theo không khí của bãi. Có anh Hiệu nổi tiếng cả vùng, làng nào mở hội cũng mời, người đi xem chọn hội theo tên anh Hiệu như chọn đoàn hát.
Câu thai thường là thơ lục bát hoặc biến thể, có khi là ca dao quen thuộc, có khi là câu chuyện ngắn hát nối tiếp. Câu thai không nói thẳng tên con bài ngay từ đầu mà đánh đố, gợi hình ảnh, rồi đến câu cuối mới bật ra tên. Lối "thai" này gần với câu đố dân gian, đòi người nghe nhanh trí. Nội dung câu thai đi từ tình yêu đôi lứa, chuyện làm ăn, chuyện gia đình đến những lời răn dạy nhẹ nhàng.
Tên các con bài cũng là một kho chữ nghĩa. Bộ bài chia theo các pho như Văn, Vạn, Sách, cùng vài con lẻ, mỗi con có tên riêng như Ông Ầm, Bạch Huê, Chín Gối, Nhứt Trò; tên gọi và số con bài có thể khác nhau tuỳ vùng. Nhiều tên nghe lạ tai với người nay nhưng là những hình ảnh rất đời thường của làng quê miền Trung xưa.
Làn điệu bài chòi và nhạc cụ đi kèm
Các điệu hát chính. Bài chòi dùng một số làn điệu dân ca miền Trung, thường được nhắc tới là xuân nữ, cổ bản, xàng xê, hò quảng. Mỗi điệu một sắc thái: có điệu vui tươi hợp lúc mở hội, có điệu trầm buồn dùng khi kể chuyện tình duyên trắc trở.
Nói lối và hát. Anh Hiệu xen giữa lời nói có vần và hát hẳn ra điệu, như cách người kể chuyện chuyển từ đọc sang ngâm. Nhịp này giúp cuộc chơi không đơn điệu suốt một đêm dài.
Nhạc cụ. Những hội đông đủ thường có trống, mõ, đàn nhị, đàn bầu hay sáo, tuỳ địa phương. Trống chiêng báo tới, mõ báo trúng thẻ, đàn đệm cho anh Hiệu hát.
Ứng tác theo hội. Không có bản hát cố định. Cùng một con bài, mỗi anh Hiệu chọn câu thai khác, mỗi đêm hát khác. Tính ứng tác này được UNESCO nhấn mạnh như một phẩm chất sống của di sản.
Ngôn ngữ địa phương. Lời hát dùng giọng và từ ngữ miền Trung, nhiều chữ đặc trưng xứ Quảng, Bình Định. Người miền khác nghe lần đầu có thể chưa bắt kịp, nhưng giai điệu và tiếng cười của bãi thì ai cũng hiểu.
Từ hội chơi đến sân khấu bài chòi
Từ lối hô thai trong hội, dần dần xuất hiện những đoạn hát kể chuyện dài, có người đóng vai, có lời đối đáp. Khoảng nửa đầu thế kỷ 20, ở nhiều nơi đã có lối diễn thường được gọi là "bài chòi chiếu", tức diễn trên một chiếc chiếu trải giữa sân, kể lại các tích truyện quen thuộc. Từ đó hình thành sân khấu ca kịch bài chòi với tuồng tích, nhân vật, dàn nhạc hoàn chỉnh.
Trong nửa sau thế kỷ 20, nhiều đoàn ca kịch bài chòi chuyên nghiệp ra đời ở các tỉnh miền Trung, dựng cả những vở có đề tài mới bên cạnh tích cũ. Ca kịch bài chòi và hội bài chòi vì thế là hai nhánh của cùng một gốc: một bên là sân khấu biểu diễn, một bên là cuộc chơi cộng đồng.
Hồ sơ di sản năm 2017 bao trùm cả hai mặt, nhấn mạnh hội bài chòi như một thực hành cộng đồng, nơi người dân cùng tham gia chứ không chỉ ngồi xem. Đó cũng là lý do những năm gần đây, nhiều địa phương khôi phục hội bài chòi ngày Tết ở làng, bên cạnh các buổi diễn trên sân khấu.
Di sản UNESCO 2017: ghi danh gì, ở những tỉnh thành nào
Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam được ghi danh vào tháng 12 năm 2017, tại kỳ họp của Uỷ ban Liên chính phủ Công ước bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể tổ chức ở Hàn Quốc. Hồ sơ gồm chín tỉnh thành theo địa giới lúc đó; từ tháng 7 năm 2025 các địa bàn này thuộc các tỉnh thành mới như sau.
| Địa bàn trong hồ sơ năm 2017 | Thuộc tỉnh thành hiện nay |
|---|---|
| Quảng Bình, Quảng Trị | Quảng Trị |
| Thừa Thiên Huế | Thành phố Huế |
| Đà Nẵng, Quảng Nam | Thành phố Đà Nẵng |
| Quảng Ngãi | Quảng Ngãi |
| Bình Định | Gia Lai |
| Phú Yên | Đắk Lắk |
| Khánh Hoà | Khánh Hoà |
Bình Định cũ và xứ Quảng thường được coi là những vùng bài chòi sôi nổi nhất, nhưng di sản là của cả dải đất này. Khi viết hay kể về bài chòi, nên ghi tên tỉnh cũ kèm tên tỉnh thành hiện nay để người đọc không nhầm.
Ghi danh không có nghĩa là bài chòi đã an toàn. Lớp anh Hiệu giỏi đang già đi, người trẻ ít có dịp nghe hội trọn một đêm. Vì thế các địa phương trong hồ sơ cam kết mở lớp truyền dạy, khôi phục hội làng và đưa bài chòi vào trường học. Mỗi người đi xem, mỗi gia đình đưa con tới hội trong mấy ngày Tết cũng là một phần của việc giữ di sản ấy.
Đi xem hội bài chòi ngày Tết hôm nay
Những ngày Tết và tháng Giêng, nhiều làng ở miền Trung dựng lại chòi tre, mở hội bài chòi cho dân làng và khách. Phố cổ Hội An có các buổi hô bài chòi vào buổi tối cho du khách, không chỉ dịp Tết. Thông tin lịch hội thường được chính quyền địa phương và các trung tâm văn hoá thông báo gần ngày, nên trước khi đi nên hỏi trước.
Khi xem, nên đến sớm để thấy cảnh dựng chòi và phát thẻ, nghe vài câu thai mở đầu. Nếu muốn ngồi trong chòi, hỏi ban tổ chức về cách tham gia; ở các hội cộng đồng, việc nhận thẻ chỉ mang tính vui chơi, phần thưởng là cờ và quà nhỏ. Chơi được thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào là vi phạm pháp luật, kể cả trong không khí hội.
Với người đưa con đi xem, bài chòi là dịp tốt để trẻ nghe dân ca sống chứ không qua loa đài. Có thể hỏi con nhớ được câu thai nào, con thích con bài nào, rồi về nhà cùng đặt một câu thai cho vui. Di sản sống được khi có người nghe và người nối tiếp, chứ không chỉ khi có tấm bằng ghi danh.
Câu hỏi thường gặp
Bài chòi được UNESCO công nhận năm nào?
Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2017. Hồ sơ gồm chín tỉnh thành miền Trung theo địa giới lúc đó, nay thuộc Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hoà.
Anh Hiệu trong bài chòi là ai?
Anh Hiệu, hay chị Hiệu, là người rút thẻ bài, hát câu thai và xướng tên con bài, đồng thời điều khiển nhịp của cả hội. Anh Hiệu giỏi thuộc nhiều câu thai, biết ứng khẩu theo khán giả và có giọng hát tốt. Ở nhiều vùng, người ta chọn hội để đi xem theo tên anh Hiệu.
Câu thai bài chòi là gì?
Câu thai là câu hát có vần, thường theo thể lục bát, gợi hình ảnh hoặc đánh đố trước khi bật ra tên con bài vừa rút. Câu thai có thể là ca dao quen thuộc hoặc lời tự ứng tác. Mỗi con bài có nhiều câu thai khác nhau, mỗi anh Hiệu chọn một kiểu.
Hội bài chòi và ca kịch bài chòi khác nhau thế nào?
Hội bài chòi là cuộc chơi cộng đồng có chòi tre, thẻ bài và anh Hiệu hát câu thai. Ca kịch bài chòi là loại hình sân khấu phát triển từ đó, có tích truyện, nhân vật và dàn nhạc. Hai nhánh cùng dùng làn điệu bài chòi và đều nằm trong phạm vi di sản.
Ngày Tết đi xem bài chòi ở đâu?
Nhiều làng ở các tỉnh thành miền Trung mở hội bài chòi trong những ngày Tết và tháng Giêng; phố cổ Hội An có các buổi hô bài chòi buổi tối cho du khách. Lịch cụ thể thay đổi mỗi năm, nên hỏi trung tâm văn hoá hoặc chính quyền địa phương trước khi đi.
Tham gia hội bài chòi có phải đặt tiền không?
Ở các hội cộng đồng hiện nay, việc nhận thẻ và tới chỉ mang tính vui chơi, phần thưởng là cờ, quà nhỏ theo lệ làng. Mọi hình thức được thua bằng tiền đều vi phạm pháp luật. Nếu chưa rõ cách tham gia, nên hỏi trực tiếp ban tổ chức hội.