TetXua.comTết Xưa
Tiễn ông Công ông Táo

Mũ áo ông Táo: mũ cánh chuồn, mũ bà và nghề làm hàng mã xưa ở làng Bắc Bộ

Bộ mũ áo ông Táo gồm hai mũ ông cánh chuồn, một mũ bà, áo và hia. Bài kể ý nghĩa từng món, cách thợ làng Bắc Bộ làm bằng tre và giấy, và chuyện đổi màu theo năm.

Close view inside a craft workshop near Hanoi, weathered hands gluing gold foil onto a paper mandarin hat on bamboo frame, stacks of colorful paper hats behind, soft window light

Bộ mũ áo ông Táo phổ biến ở miền Bắc gồm hai chiếc mũ ông có cánh chuồn, một chiếc mũ bà không cánh, kèm áo và hia bằng giấy, ứng với truyện Táo quân hai ông một bà. Theo quan niệm dân gian, đây là "trang phục" để các vị lên chầu trời cho chỉnh tề, và sau lễ thì được hoá cùng tiền vàng.

Ít ai để ý rằng mỗi chiếc mũ là kết quả của một nghề thủ công có tuổi: vót nan tre làm cốt, bồi giấy, dán giấy trang kim, vẽ hoa văn rồng phượng. Bài này giải nghĩa từng món trong bộ mũ áo, kể cách thợ ở các làng nghề vùng ven Hà Nội làm ra chúng, và chuyện chọn màu mũ theo năm mà nhiều người hỏi mỗi dịp cuối năm.

Bộ mũ áo gồm những gì và mỗi món mang nghĩa gì

Hai mũ ông có cánh chuồn. Mũ mô phỏng mũ quan văn thời phong kiến, hai bên có hai cánh nhỏ hình cánh chuồn chuồn. Hình mũ quan nói lên vị trí của Táo quân trong hình dung dân gian: một vị quan của trời phái xuống trông coi một nhà.

Một mũ bà không cánh. Dành cho bà Táo, nhân vật Thị Nhi trong truyện cổ tích. Mũ bà thường tròn hoặc có chóp, trang trí hoa văn mềm hơn, không có cánh chuồn.

Áo. Áo giấy may theo kiểu áo thụng, áo bào thu nhỏ, nhiều màu, có dán trang kim. Có bộ làm ba áo ứng với ba vị, có bộ chỉ một áo tượng trưng.

Hia. Hia là đôi giày ống cao của quan lại xưa, làm bằng giấy bồi. Một bộ đủ thường có hia đi kèm mũ ông; hia giúp hình dung chuyến đi được trọn vẹn từ đầu đến chân.

Cá chép hoặc ngựa giấy. Không phải phần của mũ áo nhưng hay được bán chung. Ở Bắc Bộ có cá chép giấy cho nhà không thả cá sống; ở miền Trung, miền Nam có ngựa giấy.

Tiền vàng đi kèm. Thường hoá chung với mũ áo sau lễ. Lượng nhiều hay ít là nếp từng nhà; gần đây nhiều gia đình dùng ít đi hẳn để gọn và đỡ khói.

Nghề làm mũ ông Táo ở các làng ven Hà Nội

Vùng ven Hà Nội và Bắc Ninh có những làng sống bằng nghề hàng mã nhiều đời. Làng Phúc Am ở vùng Thường Tín cũ, Hà Nội, được biết đến như nơi chuyên làm mũ ông Công ông Táo; làng Song Hồ ở vùng Thuận Thành cũ, Bắc Ninh, nổi tiếng với nghề làm đồ mã nói chung. Mùa cao điểm của các làng này bắt đầu từ khoảng tháng Mười âm lịch, khi đơn hàng dồn về cho dịp cuối năm.

Ngày trước, nghề làm theo hộ gia đình: người già vót nan, người lớn bồi giấy, trẻ con phụ dán. Sản phẩm làm xong gánh lên phố Hàng Mã ở Hà Nội hoặc chở đi các chợ phiên vùng đồng bằng. Phố Hàng Mã giữ tên nghề cũ đến nay, mùa ông Táo và mùa Trung thu là hai mùa rực rỡ nhất của con phố này.

Nghề hàng mã bấp bênh theo mùa và theo chuyện đổi thay quan niệm. Có những giai đoạn đồ mã bị hạn chế, có giai đoạn nhu cầu tăng mạnh. Nhiều gia đình trong làng chuyển sang làm đồ trang trí, đèn lồng, mặt nạ Trung thu để có việc quanh năm. Bộ mũ ông Táo vẫn là mặt hàng mùa vụ mà nhiều nhà giữ, như một cách giữ nghề của cha ông.

Một chiếc mũ cánh chuồn được làm ra thế nào

Mỗi làng, mỗi nhà có tay nghề riêng, nhưng quy trình làm mũ truyền thống thường đi qua các bước dưới đây. Mô tả mang tính giới thiệu nghề, không phải hướng dẫn sản xuất.

  1. Chọn tre, nứa già, chẻ thành nan mỏng rồi vót cho đều. Nan là bộ xương giữ dáng mũ.
  2. Uốn nan thành cốt mũ: vành, thân, chóp. Mũ ông làm thêm hai thanh nhỏ để gắn cánh chuồn hai bên.
  3. Bồi giấy lên cốt bằng hồ dán nấu từ bột gạo hoặc bột sắn, bồi nhiều lớp cho cứng. Ngày nắng hanh khô cuối năm là thời tiết lý tưởng để phơi.
  4. Dán giấy màu làm nền, thường là đỏ, vàng, xanh, đen hay trắng tuỳ năm.
  5. Trang trí bằng giấy trang kim cắt hoa văn, vẽ rồng, phượng, mây bằng phẩm màu. Thợ lành nghề vẽ tay nhanh và đều đến mức nhìn qua khó thấy khác biệt giữa các chiếc.
  6. Gắn cánh chuồn, quai, rồi xếp vào bộ cùng mũ bà, áo, hia để đem bán.

Những chiếc mũ làm theo lối cũ nhẹ và giòn, cầm lên thấy rõ tiếng nan tre. Ngày nay có xưởng dùng khuôn, giấy công nghiệp và in sẵn hoa văn, nhanh hơn nhưng mất đi dấu tay của người thợ.

Chuyện chọn màu mũ theo năm

Mỗi dịp cuối năm, câu hỏi "năm nay mũ ông Táo màu gì" xuất hiện khắp nơi. Nhiều nơi có nếp chọn màu mũ theo ngũ hành của năm âm lịch: năm thuộc hành nào thì dùng màu tương ứng theo một bảng quy ước. Vấn đề là các sách và người bán đưa ra những bảng không hoàn toàn giống nhau; có bảng lấy màu của chính hành của năm, có bảng lấy màu của hành sinh ra hành đó.

Vì không có một bảng chung được mọi sách thống nhất, phần lớn người mua theo màu mà làng nghề và các cửa hàng đã làm sẵn cho năm ấy. Nhiều gia đình khác không để ý màu, chọn bộ mũ đẹp, chắc tay là đủ. Theo quan niệm dân gian, điều cốt yếu là lòng thành của người làm lễ, còn màu sắc là một lớp trang trí thêm vào.

Nếu gia đình bạn có nếp chọn màu theo năm, cứ giữ như người lớn đã làm. Nếu không, chọn màu nào cũng không phải chuyện cần băn khoăn. Đây là một chi tiết văn hoá thú vị để tìm hiểu, chứ không phải điều kiện của lễ.

Mũ áo xưa và nay khác nhau thế nào

So sánh dưới đây dựa trên lời kể của thợ làng nghề và những gì có thể thấy ở chợ cuối năm. Không có nghĩa bộ mũ ngày nay kém hơn, chỉ là đổi theo cách làm và cách mua.

Khía cạnhNgày xưaNgày nay
Vật liệu khungNan tre, nứa vót tayNan tre, có nơi dùng bìa cứng ép khuôn
GiấyGiấy bản, giấy dó, giấy màu nhuộmGiấy công nghiệp, giấy kim tuyến, có loại in sẵn
Hoa vănVẽ tay, cắt trang kimNhiều mẫu in hoặc dập sẵn
Kích cỡThường cỡ vừaTừ bộ nhỏ gọn đến bộ rất lớn
Nơi muaChợ phiên, gánh hàng rong, phố Hàng MãChợ, cửa hàng đồ lễ, đặt qua mạng
Cách hoáHoá ở sân, ở góc vườnNhiều khu dân cư có chỗ hoá chung, nhiều nhà dùng bộ nhỏ để giảm khói

Xu hướng dùng bộ mũ áo nhỏ gọn, ít vàng mã đang rõ dần ở các đô thị. Đây là sự điều chỉnh hợp với nơi ở chật và ý thức giữ môi trường, không làm mất đi ý nghĩa của lễ.

Nhận ra bộ mũ áo làm tay và bộ in sẵn

Khi đi chợ cuối năm, bạn sẽ gặp cả bộ mũ áo làm theo lối thủ công lẫn bộ sản xuất hàng loạt. Không có loại nào "đúng" hơn về nghi lễ, nhưng nếu muốn ủng hộ nghề truyền thống hoặc chỉ muốn hiểu món đồ mình cầm, vài dấu hiệu dưới đây giúp phân biệt.

  • Khung mũ: mũ làm tay có nan tre lộ ra ở mép trong, cầm lên thấy nhẹ và hơi đàn hồi; mũ ép khuôn cứng đều, mép phẳng như cắt máy.
  • Hoa văn: nét vẽ tay có chỗ đậm nhạt, hai chiếc mũ trong một bộ không giống hệt nhau; hoa văn in sẵn sắc nét và trùng khít từng chi tiết.
  • Cánh chuồn: cánh làm tay thường gắn bằng thanh tre nhỏ, có độ rung khi lắc nhẹ; cánh ép khuôn liền với thân hoặc gắn bằng keo.
  • Giấy trang kim: mũ làm tay dán từng mảnh trang kim cắt nhỏ, mép mảnh hơi lệch; loại công nghiệp dùng giấy kim tuyến khổ lớn phủ cả mảng.
  • Hia và áo: bộ thủ công thường có áo cắt may đơn giản, đường hồ dán còn thấy; bộ in sẵn áo phẳng, màu đều, hay đóng trong túi nhựa.

Người bán ở chợ quê thường biết rõ hàng mình lấy từ làng nào. Hỏi một câu "bộ này làm ở đâu" vừa để biết nguồn gốc, vừa là cách bắt chuyện về nghề. Nhiều người thợ già rất vui khi có người hỏi đến tay nghề của họ.

Giữ nghề, giữ ký ức từ một chiếc mũ giấy

Với người lớn tuổi ở Bắc Bộ, ký ức ngày ông Táo gắn với dáng mẹ đi chợ về, trong rổ có bộ mũ áo xanh đỏ nằm cạnh túi cá chép quẫy nước. Trẻ con háo hức sờ vào cánh chuồn giấy, bị người lớn nhắc khẽ không được làm rách. Những chi tiết nhỏ ấy làm nên hương vị riêng của Tết xưa mà không văn bản nào ghi đủ.

Muốn hiểu nghề, cách tốt nhất là đến làng nghề vào tháng Chạp, xem người thợ làm từ nan tre đến chiếc mũ hoàn chỉnh. Nếu đi cùng trẻ con, đó là một bài học sống động về nghề thủ công, về cách người xưa biến tre, giấy, hồ gạo thành một vật mang ý nghĩa nghi lễ. Khi đi, bạn nên hỏi trước chủ nhà có tiện cho khách xem không, vì mùa cao điểm thợ rất bận.

Còn với bộ mũ áo trong nhà mình, chọn bộ vừa phải, làm lễ trang trọng, hoá gọn gàng ở nơi an toàn là đủ. Một chiếc mũ giấy đẹp là công sức của cả một làng nghề; trân trọng nó cũng là một cách giữ nếp.

Câu hỏi thường gặp

Mũ ông Táo gồm mấy chiếc?

Bộ phổ biến ở miền Bắc gồm ba chiếc: hai mũ ông có cánh chuồn và một mũ bà không cánh, ứng với truyện Táo quân hai ông một bà. Đi kèm thường có áo và hia giấy. Miền Trung và miền Nam nhiều nhà dùng bộ giản lược hơn.

Vì sao mũ ông Táo có cánh chuồn?

Mũ mô phỏng mũ quan văn thời phong kiến, hai bên có cánh nhỏ hình cánh chuồn chuồn. Hình dáng ấy nói lên cách dân gian hình dung Táo quân như một vị quan nhà trời được phái xuống trông coi gia đình, cuối năm lên chầu báo việc.

Năm nay mũ ông Táo màu gì?

Nhiều nơi chọn màu theo ngũ hành của năm, nhưng các bảng quy ước không hoàn toàn thống nhất giữa các sách. Phần lớn người mua theo màu làng nghề làm sẵn cho năm đó. Nếu nhà bạn không có nếp chọn màu, chọn bộ đẹp, chắc tay là đủ.

Làng nào làm mũ ông Công ông Táo nổi tiếng?

Làng Phúc Am ở vùng Thường Tín cũ, Hà Nội, được biết đến với nghề làm mũ ông Công ông Táo. Vùng ven Hà Nội và Bắc Ninh còn một số làng làm đồ mã truyền thống khác. Mùa làm mũ thường bắt đầu từ khoảng tháng Mười âm lịch.

Có nhất thiết phải hoá mũ áo sau lễ không?

Theo nếp phổ biến, mũ áo được hoá sau lễ cùng tiền vàng. Hiện nhiều gia đình dùng bộ nhỏ, hoá ở nơi an toàn hoặc chỗ hoá chung của khu dân cư để hạn chế khói. Cách làm là tuỳ nếp nhà và quy định nơi ở.

Mũ áo ông Táo làm bằng gì?

Theo lối truyền thống, khung làm từ nan tre hoặc nứa, bồi giấy bằng hồ bột gạo, dán giấy màu và trang kim, vẽ hoa văn bằng phẩm màu. Ngày nay có thêm loại dùng bìa ép khuôn và giấy in sẵn hoa văn.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183