Cùng tiễn ông Táo ngày 23 tháng Chạp, nhưng người miền Bắc quen thả cá chép cho ông Táo cưỡi về trời, nhiều gia đình miền Nam lại đốt ngựa giấy hoặc chỉ đốt bộ áo giấy, còn miền Trung tuỳ nơi dùng ngựa, dùng cá hoặc cả hai. Khác biệt nằm ở "phương tiện" chở ông Táo, ở bộ mũ áo đi kèm và ở chỗ đặt ban thờ bếp trong nhà.
Bài này đi lần lượt từng miền, đặt chúng cạnh nhau trong một bảng, rồi thử giải thích vì sao có khác biệt: đất nhiều ao hồ hay ít, giao lưu với người Hoa nhiều hay ít, và những đợt di dân đã mang nếp quê theo vào vùng đất mới. Mọi mô tả đều là nếp phổ biến, không phải quy định, và trong một miền vẫn có làng làm khác.
Miền Bắc: cá chép và bộ mũ áo hai ông một bà
Ở Bắc Bộ, hình ảnh quen nhất của ngày 23 tháng Chạp là những chậu cá chép đỏ bày bán ở chợ từ sáng sớm. Theo quan niệm dân gian, cá chép là phương tiện đưa ông Táo về trời, vì cá chép có tích vượt Vũ Môn hoá rồng. Lễ xong, người nhà mang cá ra ao làng, ra hồ, ra sông thả. Nhiều nhà chọn ba con, ứng với ba vị Táo, nhưng cũng có nhà thả một con hay một đôi.
Đi kèm cá là bộ mũ áo bằng giấy: hai mũ ông có cánh chuồn, một mũ bà không cánh, cùng áo và hia. Lễ xong, mũ áo được hoá cùng tiền vàng. Có nơi dùng thêm cá chép bằng giấy để hoá chung, nhất là khi không tiện mua cá sống. Ban thờ thường là ban thờ thần linh hoặc một góc bếp, tuỳ nhà.
Lý do cá chép bám rễ ở miền Bắc có thể gắn với cảnh quan: làng đồng bằng sông Hồng nhà nào cũng gần ao, gần sông, cá chép là loài quen thuộc trong ao nhà. Hình ảnh con cá nhảy qua cửa sông lên trời cũng dễ hình dung với người sống giữa mạng lưới sông ngòi chằng chịt ấy. Đến nay, ở Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình và nhiều tỉnh đồng bằng, cảnh người lớn dắt trẻ con ra hồ thả cá sáng 23 vẫn là ký ức Tết của nhiều thế hệ.
Miền Trung: mỗi vùng một nếp, ngựa và cá cùng có
Dải đất miền Trung dài, nếp tiễn ông Táo cũng không đồng nhất. Ở Huế, nhiều gia đình giữ lễ đưa ông Táo khá chu đáo, với mũ áo giấy và có nơi dùng ngựa giấy làm phương tiện; một số nhà vẫn thả cá như người Bắc. Ở xứ Quảng và các tỉnh Nam Trung Bộ, nhiều nhà cúng giản dị trong bếp, hoá bộ áo giấy, ít nhà mua cá sống.
Một nét hay gặp ở miền Trung là lễ đưa ông Táo nằm sát các việc lo tổ tiên cuối năm như chạp mả, giẫy cỏ mộ, cúng chạp họ. Không khí ngày 23 vì thế mang màu sắc gia tộc rõ hơn, ít ồn ào chợ búa. Người miền Trung cũng quen nói "đưa ông Táo" chứ ít khi gọi "tiễn ông Công ông Táo".
Nguồn gốc sự pha trộn có thể đến từ lịch sử di dân: người Việt từ Thanh Nghệ vào Thuận Quảng mang theo nếp Bắc, rồi gặp các cộng đồng khác, gặp thương nhân người Hoa ở Hội An, ở Huế. Mỗi lớp giao lưu để lại dấu riêng. Vì vậy ở miền Trung, hỏi ba nhà có khi nghe ba cách làm, và cách nào cũng có lý do của nó.
Miền Nam: bàn thờ bếp, ngựa giấy và lễ cúng giản dị
Ở Nam Bộ, ông Táo thường có một bàn thờ nhỏ ngay trong bếp, dán tờ giấy đỏ ghi bốn chữ Định phúc Táo quân. Ngày 23 tháng Chạp, gia đình làm lễ đưa ông Táo ngay tại đó. Nhiều nhà đốt một con ngựa giấy, theo quan niệm ông Táo cưỡi ngựa về trời; có nhà chỉ đốt áo giấy và tiền vàng, không dùng phương tiện nào. Tục thả cá chép ít phổ biến ở miền Nam, dù những năm gần đây có gia đình gốc Bắc vẫn giữ.
Lễ vật miền Nam nghiêng về đồ ngọt và trái cây theo mùa, cách bày cũng giản dị. Sau lễ, có nhà lau dọn bếp, thay tờ giấy đỏ mới hoặc để đến gần Tết mới thay. Ở các khu phố người Hoa như Chợ Lớn, ảnh hưởng qua lại càng rõ: tranh thần bếp, đồ cúng ngọt, ngày cúng có khi lệch sang 24.
Hình ảnh ông Táo cưỡi ngựa không xa lạ với vùng Đông Á. Bên Trung Hoa xưa có tục in tranh thần bếp kèm hình ngựa để đốt khi tiễn. Người Nam Bộ sống cạnh cộng đồng người Hoa hàng trăm năm, việc tiếp nhận một hình ảnh như vậy là tự nhiên. Điều đáng chú ý là dù khác phương tiện, người hai đầu đất nước vẫn chung một ý: chuẩn bị cho thần bếp một chuyến đi chỉnh tề.
So sánh nhanh nếp tiễn ông Táo ba miền
Bảng gom những nét phổ biến nhất. Trong mỗi miền vẫn có làng, có dòng họ làm khác; bảng chỉ nên dùng như bản đồ định hướng.
| Nét so sánh | Bắc Bộ | Trung Bộ | Nam Bộ |
|---|---|---|---|
| Cách gọi | Tiễn ông Công ông Táo | Đưa ông Táo | Đưa ông Táo, cúng ông Táo |
| Phương tiện theo quan niệm | Cá chép sống hoặc cá giấy | Ngựa giấy, có nơi cá chép | Ngựa giấy hoặc không dùng |
| Mũ áo | Hai mũ ông một mũ bà, áo, hia | Mũ áo giấy, tuỳ nơi giản lược | Thường là áo giấy, ít nhà đủ bộ mũ |
| Chỗ làm lễ | Ban thần linh hoặc góc bếp | Trong bếp hoặc ban thờ | Bàn thờ ông Táo trong bếp |
| Không khí | Rộn ràng chợ cá, đi thả cá | Gắn với chạp mả, chạp họ | Giản dị trong gia đình |
| Ảnh hưởng người Hoa | Ít | Có ở phố thị | Rõ ở Chợ Lớn và các đô thị |
Đọc bảng sẽ thấy phần lõi giống nhau: một ngày, một ý nghĩa, một vị thần bếp. Phần khác nhau đều nằm ở hình thức, những thứ dễ đổi theo cảnh vật và theo người sống quanh mình.
Phần giống nhau mà ba miền cùng giữ
Nhìn kỹ, nếp ba miền giống nhau nhiều hơn khác. Ở đâu người ta cũng coi ngày 23 tháng Chạp là ngày thần bếp rời nhà đi một chuyến, và ở đâu bếp cũng được dọn sạch trước hoặc ngay sau lễ. Tro cũ được vun đi, nồi niêu được cọ, góc bếp ám khói được lau. Việc dọn bếp không chỉ là nghi thức; đó là lần tổng vệ sinh lớn nhất trong năm của gian nhà bận rộn nhất.
Ở đâu lễ tiễn Táo cũng là lúc cả nhà nhìn lại năm cũ. Hình ảnh ông Táo lên trời kể chuyện nhà là cái cớ để người lớn nhắc con cháu sống tử tế, chi tiêu chừng mực, hoà thuận với nhau. Câu đùa quen thuộc "cẩn thận kẻo ông Táo tâu" là lối giáo dục nhẹ nhàng của người xưa, không mang ý doạ nạt.
Và ở đâu ngày 23 cũng là mốc mở màn cho những ngày Tết. Người Bắc bắt đầu lo gói bánh chưng, người Nam bắt đầu lo gói bánh tét, người miền Trung lo chạp mả, làm mứt, làm bánh in. Sự khác biệt về con cá hay con ngựa chỉ là lớp áo bên ngoài của một nhịp sống chung.
Vì sao mỗi miền một kiểu
Cảnh quan sông nước. Đồng bằng Bắc Bộ dày ao hồ, cá chép quen thuộc; thả cá là việc dễ làm. Nhiều vùng miền Trung và miền Nam lại có nhịp sống khác, ao làng không phải là cảnh chung của mọi nhà.
Giao lưu với người Hoa. Ở những nơi người Hoa sinh sống lâu đời, hình ảnh thần bếp cưỡi ngựa, đồ cúng ngọt, tranh thần bếp dễ thấm vào nếp của người Việt xung quanh.
Di dân mang nếp quê theo. Mỗi đợt người Bắc vào Nam, từ thời mở cõi đến những đợt sau này, đều mang theo một phiên bản tục tiễn Táo. Ở vùng đất mới, phiên bản ấy gặp nếp sẵn có và đổi dần.
Kiến trúc nhà và bếp. Nhà miền Bắc xưa thường có bếp tách riêng, ban thần linh đặt nơi khác; nhà Nam Bộ có bàn thờ bếp gắn với gian bếp. Chỗ thờ khác thì cách làm lễ cũng khác.
Truyền miệng. Phong tục sống bằng lời kể của người lớn trong nhà. Một chi tiết được nhấn hay bị quên qua vài đời là đủ tạo ra khác biệt.
Nhà nhiều miền thì giữ nếp nào
Ngày nay rất nhiều gia đình mang hai nếp: chồng gốc Thái Bình cũ nay thuộc Hưng Yên, vợ gốc Cần Thơ, sống ở Thành phố Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng. Đến ngày 23, câu hỏi "thả cá hay đốt ngựa" đôi khi thành chuyện bàn bạc trong nhà. Không có câu trả lời bắt buộc. Nhiều nhà chọn nếp của bên đang giữ bàn thờ gia tiên, vì việc thờ cúng gắn với dòng họ đó. Có nhà gộp cả hai một cách nhẹ nhàng: vẫn bày mũ áo, không mua cá sống mà dùng cá giấy.
Điều đáng giữ hơn cả là ý nghĩa: dọn bếp sạch, cả nhà quây quần, kể lại một năm đã qua. Hình thức có thể giản lược theo hoàn cảnh sống, như căn hộ chung cư không có ao để thả cá, hay khu phố cấm đốt vàng mã trên vỉa hè. Đổi hình thức để hợp chỗ ở không làm mất đi phần cốt lõi.
Nếu bạn là người trẻ muốn giữ nếp nhà, cách hay là hỏi ông bà, cha mẹ xem quê mình làm thế nào rồi ghi lại. Mỗi gia đình là một mảnh ghép nhỏ của bức tranh ba miền, và chính những chi tiết nhỏ như con cá hay con ngựa giấy làm cho bức tranh ấy có màu sắc.
Câu hỏi thường gặp
Miền Nam có thả cá chép cúng ông Táo không?
Ít phổ biến. Phần lớn gia đình Nam Bộ làm lễ ở bàn thờ bếp, có nhà đốt ngựa giấy hoặc chỉ đốt áo giấy. Một số gia đình gốc Bắc sống ở miền Nam vẫn giữ tục thả cá chép theo nếp quê, nên ở các đô thị phía Nam vẫn thấy cá chép bày bán dịp này.
Vì sao miền Bắc dùng cá chép mà miền Nam dùng ngựa?
Không có lời giải thích được ghi chép chắc chắn. Cách hiểu phổ biến là miền Bắc nhiều ao hồ và gắn với tích cá chép hoá rồng, còn miền Nam chịu ảnh hưởng hình ảnh thần bếp cưỡi ngựa từ cộng đồng người Hoa. Cả hai đều là phương tiện theo quan niệm dân gian.
Bộ mũ áo ông Táo ở ba miền có giống nhau không?
Miền Bắc phổ biến bộ đủ hai mũ ông một mũ bà kèm áo và hia. Miền Trung và miền Nam thường giản lược hơn, có nhà chỉ dùng áo giấy. Mức độ đủ hay gọn tuỳ gia đình, không phải quy định của miền nào.
Nhà ở chung cư không có chỗ thả cá thì làm thế nào?
Nhiều gia đình dùng cá chép giấy, hoặc mang cá sống đến hồ, sông phù hợp trong khu vực và thả nhẹ nhàng, mang túi về. Cũng có nhà bỏ hẳn phần phương tiện, chỉ giữ lễ dọn bếp và thắp hương. Đây đều là lựa chọn của từng nhà.
Người Hoa ở Việt Nam tiễn ông Táo có gì khác?
Người Hoa thường thờ một vị thần bếp, có khi kèm Táo bà, cúng bằng đồ ngọt như kẹo mạch nha, chè, bánh, và có nhà cúng ngày 24 thay vì 23. Tranh thần bếp cũ được hoá đi, đến Tết dán tranh mới.
Gia đình hai miền nên theo nếp nào?
Không có quy định. Nhiều nhà theo nếp của bên đang giữ bàn thờ gia tiên, có nhà kết hợp một cách giản dị. Điều cả hai nếp cùng chia sẻ là ý nghĩa tiễn thần bếp, dọn bếp và sum họp, nên giữ được phần ấy là đủ.