Người Việt tiễn ông Táo ngày 23 tháng Chạp âm lịch vì đó là mốc mà tục thờ thần bếp đã định từ lâu, truyền qua nhiều đời; không có văn bản cổ nào ở Việt Nam ghi rõ vì sao chọn đúng ngày này. Các cách giải thích phổ biến đều là cách hiểu về sau: ông Táo cần một quãng đường đi về kịp giao thừa, ngày 23 mở đầu tuần cuối năm, và tục này có họ hàng với ngày "tiểu niên" của người Hoa.
Bài này gom những cách giải thích ấy, đặt cạnh nếp cúng ngày 23 hay 24 của người Hoa, rồi đi tiếp sang chuyện chữ "Chạp" và vì sao từ ngày 23 người xưa coi như đã "vào Tết". Mục đích là để bạn hiểu ngày lễ, không phải để chọn một lời giải thích "đúng nhất".
Ngày 23 tháng Chạp nằm ở đâu trong năm âm lịch
Tháng Chạp là tháng thứ mười hai, tháng cuối cùng của năm âm lịch. Tháng âm lịch có tháng đủ 30 ngày và tháng thiếu 29 ngày, nên từ ngày 23 đến đêm giao thừa còn sáu hoặc bảy ngày. Ngày 23 vì vậy rơi vào khoảng cuối tháng Một hoặc đầu, giữa tháng Hai dương lịch, tuỳ năm. Người xưa không tính theo dương lịch nên chỉ nhớ một mốc: hai mươi ba tháng Chạp.
Trong nhịp sống nông nghiệp, quãng này là lúc việc đồng áng đã vãn. Lúa mùa gặt xong từ lâu, lúa chiêm ở miền Bắc đã cấy hoặc đang chờ, trời rét và khô. Người ta có thời gian dọn nhà, sửa sang bếp núc, chuẩn bị đồ Tết. Một ngày lễ đánh dấu điểm chuyển từ lo làm ăn sang lo Tết rơi vào đúng lúc này là hợp lẽ, dù lý do ban đầu có thể không ai ghi lại.
Cần nói rõ thêm: ngày 23 tháng Chạp là ngày âm lịch. Mỗi năm nó ứng với một ngày dương khác nhau, nên khi nghe ai nói "ông Táo năm nay vào thứ mấy", đó là chuyện đổi lịch của từng năm, còn bản thân tục thì không đổi.
Các cách giải thích dân gian hay nghe
Đủ thời gian đi về trước giao thừa. Cách giải thích phổ biến nhất: ông Táo lên trời mất mấy ngày, phải đi từ 23 để kịp về nhận việc khi năm mới sang. Đây là lối nghĩ theo hình ảnh, coi chuyến chầu trời như chuyến đi xa của một người thật.
Mở đầu tuần lễ cuối năm. Từ 23 đến giao thừa là quãng ngắn nhất mà vẫn đủ cho mọi việc chuẩn bị Tết. Đặt lễ tiễn Táo ở đầu quãng ấy biến nó thành tiếng trống khai cuộc: xong lễ là bắt tay vào lo bánh, lo cỗ, dọn bàn thờ.
Theo nếp từ phương Bắc. Nhiều nhà nghiên cứu phong tục cho rằng tục tế thần bếp cuối năm có gốc từ Trung Hoa, nơi ngày tế Táo cũng rơi vào 23 hoặc 24 tháng Chạp. Người Việt tiếp nhận rồi biến đổi, sinh ra truyện "hai ông một bà" và tục thả cá chép rất riêng.
Bảy ngày như một vòng. Có người nối ngày 23 với con số bảy ngày còn lại của năm cũ khi tháng Chạp đủ, coi như một vòng tuần lễ trọn vẹn cho việc chuẩn bị. Cách nghĩ này đẹp về hình thức, nhưng gặp năm tháng Chạp thiếu thì chỉ còn sáu ngày, nên khó coi là lý do gốc.
Số ngày gắn với chuyện nhà. Có người giải thích rằng thần bếp cần được tiễn trước khi bếp bận rộn nhất, để những ngày nấu nướng Tết không còn phải lo nghi lễ cho bếp. Cách hiểu này nghe hợp lý nhưng cũng chỉ là suy đoán về sau.
Ngày 23 hay 24: nếp cúng Táo của người Hoa
Ở Trung Hoa, ngày tế thần bếp được gọi là "tiểu niên", tức "Tết nhỏ". Miền bắc Trung Hoa phần nhiều cúng ngày 23 tháng Chạp, miền nam phần nhiều cúng ngày 24. Có một câu nói cũ được nhiều sách phong tục nhắc lại, đại ý nhà quan cúng ngày 23, nhà dân cúng ngày 24, người sống trên thuyền cúng ngày 25. Câu này phản ánh thứ bậc xã hội xưa hơn là một quy định chặt.
Người Hoa ở Việt Nam, tập trung đông ở Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ, mang theo nếp của quê gốc. Gia đình gốc Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu hay Hải Nam có thể cúng ngày 23 hoặc 24 tuỳ dòng họ. Nhiều nhà dùng kẹo mạch nha, chè ngọt hay bánh ngọt để cúng, theo quan niệm thần bếp ăn ngọt thì nói lời ngọt khi lên trời. Hình ảnh này khác hẳn con cá chép của người Bắc, nhưng chung một ý: tiễn thần bếp đi trong không khí êm ấm.
Người Việt nhìn chung giữ ngày 23 thống nhất. Vì vậy nếu bạn thấy hàng xóm người Hoa cúng muộn hơn một ngày, đó là nếp riêng của họ chứ không phải nhầm lịch. Ở các khu phố người Hoa ngày trước, tranh thần bếp dán trên vách bếp được gỡ xuống đốt trong lễ tiễn, rồi đến Tết dán tờ mới, giống như đón một vị thần trở lại nhận việc.
Ngày tiễn thần bếp ở một số nơi
Bảng so sánh nhanh dựa trên các tài liệu phong tục phổ biến. Mỗi cộng đồng còn có biến thể nhỏ theo làng, theo họ.
| Cộng đồng | Ngày thường cúng | Hình ảnh đi kèm |
|---|---|---|
| Người Việt ở Bắc Bộ | 23 tháng Chạp | Cá chép, mũ áo hàng mã hai ông một bà |
| Người Việt ở Trung Bộ | 23 tháng Chạp | Mũ áo, có nơi kèm ngựa giấy hoặc cá chép |
| Người Việt ở Nam Bộ | 23 tháng Chạp | Bàn thờ bếp, nhiều nơi đốt ngựa giấy hoặc chỉ đốt áo giấy |
| Người Hoa ở Việt Nam | 23 hoặc 24 tháng Chạp tuỳ dòng họ | Kẹo mạch nha, bánh ngọt, tranh thần bếp thay mới |
| Miền bắc Trung Hoa | Phần nhiều ngày 23 | Kẹo mạch nha, tranh Táo thần dán ở bếp |
| Miền nam Trung Hoa | Phần nhiều ngày 24 | Đồ ngọt, hương đèn, thay tranh thần bếp |
Điểm chung là ngày lễ đều nằm trong tuần cuối năm. Điểm riêng của người Việt là truyện hai ông một bà và phương tiện chở ông Táo về trời, chuyện được bàn kỹ ở các bài khác trong danh mục này.
Chữ "Chạp" từ đâu ra
Tháng mười hai âm lịch có tên Hán Việt là "lạp nguyệt", tháng lạp. Chữ "lạp" (臘) gắn với lễ tế cuối năm của người xưa, khi người ta dâng lễ vật săn được, cảm tạ tổ tiên và thần linh sau một năm làm ăn. Nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng chữ "Chạp" trong tiếng Việt là cách đọc biến âm của chữ "lạp" này, giống như nhiều từ Hán Việt cổ đã được Việt hoá qua thời gian.
Từ gốc ấy, tháng Chạp mang sẵn nghĩa là tháng của lễ tạ cuối năm. Ở miền Trung, người ta còn có lễ "chạp mả", "chạp họ", tức dịp con cháu tụ về sửa sang mộ phần, cúng tổ tiên trong tháng cuối năm. Lễ tiễn ông Táo ngày 23 nằm trong mạch ấy: cảm tạ các vị thần trong nhà trước khi năm cũ khép lại.
Hiểu chữ "Chạp" giúp nhìn tháng cuối năm như một chuỗi lễ tạ nối nhau, chứ không chỉ là những ngày bận rộn mua sắm. Ngày 23 là một điểm nhấn trong chuỗi ấy, không phải một lễ đứng riêng lẻ. Trước nó có rằm tháng Chạp, lễ tạ đất, tảo mộ; sau nó là tất niên, rước ông bà và giao thừa. Người lớn trong nhà ngày trước thuộc lòng trình tự ấy mà không cần lịch ghi chép, vì năm nào cũng lặp lại theo đúng nhịp.
Một chi tiết thú vị là cách người Việt giữ cả hai lớp tên: trong văn viết trang trọng, sách cũ vẫn dùng "lạp nguyệt"; trong lời ăn tiếng nói, ai cũng gọi "tháng Chạp". Hai cách gọi cùng sống song song, như nhiều cặp từ Hán Việt và thuần Việt khác.
Từ ngày 23, người xưa coi như đã vào Tết
Với nhiều gia đình làng quê, tiễn ông Táo xong là mọi việc Tết chạy dồn dập. Những việc dưới đây hay được nhắc khi người lớn kể về tuần cuối năm ngày trước.
- Dọn bếp, quét tro, có nhà thay ông đầu rau cũ bằng ba hòn đất mới.
- Lau dọn bàn thờ, đánh bóng đồ đồng, thay nước bình hoa.
- Ở nhiều làng Bắc Bộ, dựng cây nêu trước sân từ ngày 23, giữ đến lễ khai hạ đầu năm.
- Đi chợ phiên cuối năm sắm lá dong, gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn.
- Trả nợ, đòi nợ, thu xếp chuyện tiền nong để không mang sang năm mới.
- Con cháu đi làm ăn xa bắt đầu lục tục về quê.
Câu nói của người lớn "qua hai mươi ba là Tết" vì thế có nghĩa đen: không khí trong nhà thay đổi hẳn. Với trẻ con ngày xưa, đây là lúc bắt đầu đếm từng ngày.
Cúng sớm hay đúng ngày: nếp của từng nhà
Theo quan niệm dân gian phổ biến, ông Táo lên trời vào ngày 23, nên nhiều gia đình cúng trong ngày 23, có nhà làm từ chiều 22 hoặc sáng sớm 23. Ở thành phố, người bận đi làm có khi cúng từ ngày 20 hay 21, vào một buổi tối cả nhà rảnh. Phần lớn các sách phong tục nói cúng sớm vài ngày là chuyện thường gặp, còn cúng sau ngày 23 thì ít nhà làm, vì theo cách hình dung, ông Táo đã đi rồi.
Về giờ, nhiều nhà quen làm trước trưa. Đây là thói quen hơn là quy định; người Nam Bộ có nhà cúng vào chiều tối khi cả nhà quây quần. Cách nghĩ hợp lý là chọn lúc gia đình đông đủ nhất, vì giá trị của lễ nằm ở chỗ cả nhà cùng dọn bếp, cùng thắp nén hương, kể cho nhau nghe chuyện năm cũ.
Còn sắm gì, bày thế nào, khấn ra sao thì mỗi gia đình theo nếp đã quen; các trang chuyên về mâm cúng và văn khấn có hướng dẫn riêng. Ở đây chỉ nhắc một điều: không có một khung giờ nào được tất cả sách thống nhất, nên không cần lo lắng khi lịch làm việc buộc nhà bạn làm lệch đi đôi chút.
Câu hỏi thường gặp
Tiễn ông Táo ngày 23 tháng Chạp là ngày âm hay dương?
Là ngày âm lịch, tức ngày 23 của tháng thứ mười hai âm lịch. Mỗi năm ngày này ứng với một ngày dương khác nhau, thường rơi vào khoảng cuối tháng Một đến giữa tháng Hai dương lịch. Muốn biết chính xác năm nào, bạn xem lịch vạn niên hoặc lịch treo tường của năm đó.
Cúng ông Táo sau ngày 23 được không?
Theo quan niệm phổ biến, ông Táo đi trong ngày 23 nên phần lớn gia đình cúng trước hoặc đúng ngày. Cúng sau ngày 23 ít thấy trong sách phong tục. Đây là nếp quen chứ không phải luật, nên nhiều nhà vì hoàn cảnh vẫn làm theo cách phù hợp với mình.
Vì sao người Hoa có nhà cúng ông Táo ngày 24?
Ở Trung Hoa, miền bắc phần nhiều cúng ngày 23, miền nam phần nhiều cúng ngày 24. Người Hoa ở Việt Nam mang nếp quê gốc theo, nên tuỳ dòng họ mà cúng ngày 23 hay 24. Đây là khác biệt vùng miền của họ, không phải nhầm lịch.
Chữ Chạp trong tháng Chạp nghĩa là gì?
Nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng Chạp là cách đọc biến âm của chữ Hán lạp, tên gọi tháng mười hai gắn với lễ tế cuối năm. Vì vậy tháng Chạp mang sẵn nghĩa tháng của lễ tạ, cùng mạch với các tục chạp mả, chạp họ và tiễn ông Táo.
Ngày 23 tháng Chạp có phải là Tết không?
Dân gian hay gọi là Tết ông Táo, coi như Tết nhỏ mở màn cho Tết Nguyên đán. Người Hoa cũng gọi ngày tế thần bếp là tiểu niên, nghĩa là Tết nhỏ. Đây không phải ngày nghỉ chính thức, nhưng trong nếp nhà, từ ngày này không khí Tết bắt đầu rõ rệt.
Từ 23 tháng Chạp đến giao thừa có bao nhiêu ngày?
Còn sáu hoặc bảy ngày, tuỳ tháng Chạp năm đó đủ 30 ngày hay thiếu chỉ 29 ngày. Năm tháng thiếu thì giao thừa rơi vào đêm 29, nhưng người ta vẫn quen gọi là đêm ba mươi Tết.