TetXua.comTết Xưa
Thú vui dân gian và hội xuân

Tổ tôm là gì: bộ bài 120 lá, chiếu tổ tôm ngày Tết và thú chơi chữ của nhà nho xưa

Tổ tôm là bài lá của người Bắc Bộ xưa, năm người một chiếu, bộ bài 120 lá chia pho văn, vạn, sách. Gốc tích, chữ nghĩa và chiếu tổ tôm trong Tết làng.

Five elderly men seen from behind sitting cross-legged on a reed mat on the porch of an old tiled house in northern Vietnam, holding fans of long narrow paper pieces, tea cups, winter light

Tổ tôm là cuộc chơi bài lá của người Bắc Bộ xưa, năm người một chiếu, dùng bộ bài 120 lá: ba pho văn, vạn, sách, mỗi pho chín hàng từ nhất đến cửu, mỗi hàng bốn lá, cộng thêm ba hàng lẻ là Chi chi, Thang thang và Ông lão. Người chơi bốc, ăn, ghép quân thành bộ theo luật, ai ghép đủ trước thì "ù".

Ngày trước, tổ tôm được coi là thú chơi của người lớn tuổi, nhà nho, chức dịch trong làng, vì nhiều luật, nhiều chữ nghĩa và đòi kiên nhẫn. Ngày Tết, chiếu tổ tôm trải ở hiên nhà hay ở điếm làng là một cảnh quen. Bài này kể về bộ bài, gốc tích, những từ tổ tôm để lại trong tiếng Việt, lối tổ tôm điếm ở hội làng và vì sao nó thưa dần. Bài không hướng dẫn chơi ăn tiền, không bàn mẹo; chơi ăn tiền là vi phạm pháp luật.

Bộ bài tổ tôm gồm những gì

Lá bài tổ tôm dài và hẹp, in trên giấy bồi, mỗi lá có chữ Hán chỉ hàng và pho, nhiều lá vẽ thêm hình người hoặc hình xâu tiền. Bảng dưới gom cấu trúc bộ bài theo cách mô tả phổ biến.

NhómGồmSố láHình trên lá
Pho VănNhất văn đến cửu văn36Chữ Hán chỉ số và chữ văn, có lá vẽ hình
Pho VạnNhất vạn đến cửu vạn36Thường vẽ hình người, kèm chữ vạn
Pho SáchNhất sách đến cửu sách36Hình xâu tiền hoặc chữ sách
Ba hàng lẻChi chi, Thang thang, Ông lão12Mỗi hàng bốn lá, hình riêng
Cộng120Năm người chơi một chiếu

Ba chữ văn, vạn, sách gốc là tên các đơn vị tiền xưa: văn là đồng tiền, sách là xâu tiền xỏ dây, vạn là mười nghìn. Đây là dấu vết của dòng bài lá lấy tiền làm "chất" ở Trung Hoa, cùng họ với ba chất vạn, sách, bính trong mạt chược.

Mỗi địa phương có thể gọi tên vài lá theo kiểu riêng, và bộ bài in ở mỗi nơi có thể khác đôi chút về hình vẽ. Khi đọc tài liệu cũ, nên để ý ghi chú về vùng và thời điểm của bộ bài đang được mô tả.

Gốc tích: từ bài lá tiền tệ Trung Hoa đến chiếu tổ tôm Bắc Bộ

Bài lá ở Trung Hoa có từ rất sớm, và một dòng lớn trong đó lấy các đơn vị tiền làm chất, tức là chia bộ bài theo đồng tiền, xâu tiền, vạn tiền. Từ dòng này nảy ra nhiều cuộc chơi, trong đó có những cuộc chơi ghép bộ là tổ tiên của mạt chược. Tổ tôm của người Việt nhiều khả năng cũng thuộc họ đó, du nhập từ lâu và được Việt hoá về luật, tên gọi và nghi thức chơi.

Thời điểm tổ tôm có mặt ở Việt Nam chưa được xác định. Có tài liệu cho rằng nó phổ biến từ thời Lê, có tài liệu chỉ nói chung là "từ lâu đời". Điều chắc chắn là đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tổ tôm đã là thú chơi quen ở làng xã và phố thị Bắc Bộ, được nhắc trong văn chương và ký sự thời đó như một sinh hoạt bình thường của tầng lớp có chữ.

Tên "tổ tôm" cũng có nhiều cách giải thích, có người gắn với âm đọc của một tên gốc nước ngoài, có người tìm nghĩa trong chữ Hán. Chưa có cách giải thích nào được giới nghiên cứu thống nhất, nên khi kể chỉ nên nói đây là tên gọi quen của người Bắc. Bài chắn ra đời sau, dùng bộ bài cùng họ nhưng rút gọn và ít luật hơn, dần dần phổ biến hơn tổ tôm vì dễ chơi.

Vì sao tổ tôm được gọi là thú chơi của nhà nho

Chơi tổ tôm cần thuộc chữ Hán trên lá bài, nhớ nhiều luật ghép bộ, tính được quân người khác có thể đang giữ. Một ván kéo dài, người chơi ngồi xếp bằng, tay cầm quạt bài, chậm rãi bốc và đánh. Không khí ấy hợp với các cụ đồ, các ông chức sắc, người nhàn rỗi có chữ, hơn là với người làm ruộng bận rộn hay trẻ con.

Người chơi tổ tôm ngày xưa còn có thói quen gọi tên quân bằng biệt danh, đọc thành câu, có khi ứng khẩu câu đối, câu thơ khi đánh ra một lá. Chiếu tổ tôm vì thế cũng là chỗ khoe chữ, khoe tài đối đáp, giống như các cuộc thi thơ trong hội. Nhiều câu chuyện dân gian kể về những ván tổ tôm mà người ta nhớ vì câu đối được ứng khẩu, chứ không vì ai ù.

Cũng chính vì gắn với tầng lớp có quyền thế ở làng, chiếu tổ tôm trong văn chương hiện thực trước năm 1945 hay hiện ra như hình ảnh của những ông lý, ông chánh nhàn rỗi, sát phạt trong khi dân làng vất vả. Hai mặt ấy cùng tồn tại: một thú chơi chữ nghĩa, và một thói quen đỏ đen bị chê trách. Kể về tổ tôm cho đủ thì nên kể cả hai.

Những từ tổ tôm để lại trong tiếng Việt

Ù. Tiếng hô khi ghép đủ bộ, thắng ván. Chữ này đi vào lời nói hằng ngày với nghĩa xong việc, đạt được điều mong chờ, dù nhiều người dùng mà không biết gốc từ chiếu bài.

Chiếu. Chiếu tổ tôm là một bàn chơi, một nhóm người chơi. Cách nói "ngồi chung chiếu" về sau mở rộng sang nghĩa ngang hàng, cùng phe, không chỉ dùng cho bài lá.

Bạch thủ. Trong bài lá, chỉ việc ù khi trên tay chỉ còn một lá chờ. Chữ này cùng gốc với thành ngữ "bạch thủ thành gia", tức tay trắng làm nên, nên người xưa nghe "ù bạch thủ" thấy vừa may vừa tài.

Cửu vạn. Tên một lá bài trong pho vạn, vẽ hình người. Có giả thuyết cho rằng cách gọi người khuân vác là "cửu vạn" ở Hà Nội bắt nguồn từ hình vẽ người lao động trên lá cửu vạn, nhưng đây vẫn là cách giải thích dân gian.

Ăn, bốc, đánh. Ba động tác cơ bản của bài lá ghép bộ, nay là từ thông dụng trong mọi loại bài. Nhiều thành ngữ như "được ăn cả, ngã về không" cũng mang dấu vết của sinh hoạt bài bạc xưa, nên được dùng như lời cảnh báo hơn là lời khuyến khích.

Tổ tôm điếm: tổ tôm thành tiết mục trong hội làng

Ở một số làng Bắc Bộ, tổ tôm từng được tổ chức trong hội xuân dưới dạng "tổ tôm điếm": người chơi ngồi trong các điếm, tức các lều hay chòi nhỏ dựng quanh sân đình, quân bài được làm to, có người xướng tên lá bài bằng câu hát hay câu đố, kèm trống báo. Cách tổ chức này khá giống hội bài chòi miền Trung, chỉ khác bộ bài và giọng hát.

Tổ tôm điếm biến một cuộc chơi trong nhà thành một tiết mục công cộng, nơi cả làng đứng xem, nghe người xướng ứng khẩu, cười theo những câu chọc ghẹo. Theo mô tả của nhiều tài liệu về hội làng, phần thưởng thường là hiện vật, cờ hay quà theo lệ, có tính chất mừng xuân hơn là sát phạt.

Ngày nay, tổ tôm điếm hầu như chỉ còn trong ký ức và trong các chương trình phục dựng lễ hội. Những người còn nhớ cách xướng bài đã già, các bộ quân lớn cũng ít nơi giữ. Nếu có dịp thấy một buổi phục dựng, đó là cơ hội hiếm để nghe lại một lối diễn xướng gắn với bài lá mà sách vở ghi chép không nhiều.

Chiếu tổ tôm trong Tết làng xưa

Trong ký ức nhiều người làng Bắc Bộ, những ngày Tết, sau lễ ở đình và những cuộc chúc Tết họ hàng, các cụ ông trải chiếu tổ tôm ở hiên nhà trưởng họ, ở điếm canh hay nhà một người có chữ. Ấm chè xanh, đĩa trầu, điếu cày, quạt bài xoè trên tay, tiếng gọi quân trầm trầm. Trẻ con đứng xem, không được cho chơi vì chưa đủ tuổi và chưa đủ chữ.

Chiếu tổ tôm ngày Tết cũng là chỗ người làng gặp nhau sau một năm, bàn chuyện làng chuyện họ giữa các ván bài. Ở những gia đình khắt khe, các cụ chỉ chơi bằng thẻ đếm hoặc chơi lấy vui vài ván trong ba ngày Tết, coi như một thú tiêu khiển, rồi cất bài đi khi hết Tết. Ở những nơi khác, chiếu bài kéo dài thành chuyện sát phạt, và đó là lúc lời chê trách trong văn chương, trong lời răn của người xưa ứng nghiệm.

Khi tầng lớp biết chữ Hán thưa dần và lối sống thay đổi, tổ tôm lùi lại nhường chỗ cho bài chắn rồi các loại bài khác. Đến nay, người còn biết chơi tổ tôm chủ yếu là người cao tuổi ở một số làng, và nhiều người trẻ chỉ biết đến tổ tôm qua văn chương hay qua lời kể của ông.

Giữ tổ tôm như một di sản chữ nghĩa

Pháp luật trước tiên. Mọi hình thức được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị đều là hành vi bị pháp luật cấm, kể cả trong nhà ngày Tết. Giữ tổ tôm là giữ phần văn hoá, không phải giữ chiếu sát phạt.

Ghi lại lời của người còn biết. Nếu trong nhà có ông bà biết tổ tôm, hãy ghi âm cách họ gọi tên quân, những câu đọc khi đánh bài, những chuyện về chiếu tổ tôm của làng. Đó là tư liệu mà sách vở ít ghi.

Giữ bộ bài cũ. Bộ bài tổ tôm in khắc gỗ trên giấy bồi là tư liệu về kỹ thuật in và nét chữ dân gian. Cất trong hộp khô, tránh mối mọt, ghi lại nguồn gốc bộ bài nếu biết.

Đọc chữ trên lá bài. Chữ nhất, nhị, tam đến cửu, chữ văn, vạn, sách là những chữ Hán đơn giản. Cùng con đọc mặt chữ trên lá bài cũ là một cách học chữ có chuyện để kể.

Đặt trong bối cảnh. Khi kể cho người trẻ, nên nói rõ tổ tôm vừa là thú chơi chữ nghĩa, vừa là nguồn của nhiều thói xấu trong làng xưa. Hiểu cả hai mặt mới là hiểu đúng một di sản.

Câu hỏi thường gặp

Bộ bài tổ tôm có bao nhiêu lá?

Bộ bài tổ tôm có 120 lá, gồm ba pho văn, vạn, sách, mỗi pho chín hàng từ nhất đến cửu, mỗi hàng bốn lá, thành 108 lá, cộng ba hàng lẻ Chi chi, Thang thang, Ông lão, mỗi hàng bốn lá. Một chiếu tổ tôm thường có năm người chơi.

Văn, vạn, sách trong tổ tôm nghĩa là gì?

Đó là tên các đơn vị tiền xưa: văn là đồng tiền, sách là xâu tiền xỏ dây, vạn là mười nghìn. Bộ bài lấy các đơn vị tiền làm chất, cùng dòng với ba chất vạn, sách, bính trong mạt chược, cho thấy gốc chung từ bài lá Trung Hoa.

Tổ tôm và bài chắn khác nhau thế nào?

Bài chắn ra đời sau, dùng bộ bài cùng họ nhưng rút gọn, ít người chơi và ít luật hơn tổ tôm. Vì dễ học hơn nên bài chắn phổ biến rộng hơn trong thế kỷ 20, còn tổ tôm dần chỉ còn ở người cao tuổi.

Tổ tôm điếm là gì?

Tổ tôm điếm là lối tổ chức tổ tôm trong hội làng Bắc Bộ, người chơi ngồi trong các điếm dựng quanh sân đình, quân bài làm to, có người xướng tên lá bài bằng câu hát hay câu đố và trống báo. Lối này nay chủ yếu còn trong các chương trình phục dựng lễ hội.

Chữ ù trong tổ tôm có nghĩa gì?

Ù là tiếng hô khi người chơi ghép đủ bộ theo luật, tức thắng ván. Từ này đi vào lời nói thường ngày với nghĩa xong việc, đạt được điều mong chờ. Nhiều từ khác như chiếu, bạch thủ cũng có gốc từ sinh hoạt bài lá xưa.

Chơi tổ tôm ngày Tết có vi phạm pháp luật không?

Nếu có được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị thì đó là hành vi bị pháp luật cấm, không phân biệt trong nhà hay ngoài đường, ngày thường hay ngày Tết. Giữ tổ tôm như một di sản chữ nghĩa thì nên chơi lấy vui, không có tiền.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183