TetXua.comTết Xưa
Chợ Tết, chợ hoa và tranh Tết

Chợ Tết quê ngày xưa: phiên chợ cuối năm ở làng Bắc Bộ bán gì, ai đi chợ

Phiên chợ Tết ở làng Bắc Bộ xưa họp theo lịch phiên, bán lá dong, gạo nếp, gà trống, tranh, hoa, nồi niêu. Chợ bán gì, ai đi chợ và vì sao ký ức chợ Tết bền đến thế.

Crowded rural market at the end of the lunar year in the Red River delta, women in conical hats carrying baskets of green dong leaves and peach branches, misty morning, faces not visible

Chợ Tết quê ngày xưa ở Bắc Bộ là những phiên chợ cuối tháng Chạp, họp theo lịch phiên của từng làng, nơi người ta bán và mua mọi thứ cho ba ngày Tết: lá dong, lạt giang, gạo nếp, đỗ xanh, gà trống, cau trầu, vàng hương, tranh, hoa, nồi niêu, chiếu mới. Phiên chợ cuối cùng trước Tết thường đông nhất năm, người đi chợ nhiều khi không để mua mà để "chơi chợ".

Bài này kể lại một phiên chợ Tết quê theo ký ức chung của nhiều thế hệ: lịch phiên cuối năm, các mặt hàng và ý nghĩa của chúng, những người đi chợ, nếp mua bán ngày cuối năm, chợ chiều ba mươi, và chợ Tết quê hôm nay còn lại những gì. Mâm cúng và câu đối thuộc những chuyên mục khác của trang nên chỉ nhắc qua.

Chợ phiên Bắc Bộ và những phiên cuối năm

Làng quê Bắc Bộ xưa không có chợ họp hằng ngày ở mọi nơi. Nhiều chợ họp theo phiên, mỗi tháng âm lịch sáu phiên, ví dụ phiên ngày một và sáu, tức các ngày mồng một, mồng sáu, mười một, mười sáu, hai mốt, hai sáu. Các chợ trong một vùng chia lịch xen kẽ nhau để người buôn bán có thể đi vòng từ chợ này sang chợ khác.

Đến tháng Chạp, các phiên chợ đông dần. Từ khoảng rằm tháng Chạp trở đi, chợ có thêm hàng Tết; phiên cuối cùng trước Tết gọi là phiên chợ Tết, đông nhất và vui nhất năm. Có làng còn họp thêm phiên phụ vào hai mươi tám, hai mươi chín cho người ta kịp sắm sửa.

Vì đi lại khó và tiền bạc ít, nhiều gia đình nông thôn dồn cả năm để sắm trong một hai phiên cuối. Bán thóc, bán gà vịt, bán khoai sắn mình làm ra, rồi mua về lá dong, giấy đỏ, vài lạng thịt, ít mứt kẹo. Phiên chợ Tết vì thế là nơi cả năm lao động của làng được quy đổi thành Tết.

Lịch phiên của từng chợ là thứ người làng thuộc lòng, truyền từ đời này sang đời khác. Người buôn chuyến nhớ lịch của cả chục chợ trong vùng để đi cho kịp. Muốn biết chợ làng mình xưa họp phiên nào, cách nhanh nhất là hỏi các cụ, vì nhiều chợ đã đổi sang họp hằng ngày.

Chợ Tết quê bán gì và mua về để làm gì

Hàng hoá ở chợ Tết quê xưa xoay quanh mấy việc chính của Tết: gói bánh, làm cỗ, thờ cúng, trang hoàng và đồ dùng mới cho năm mới. Bảng dưới gom theo nhóm.

Nhóm hàngVí dụDùng cho việc gì
Gói bánhLá dong, lạt giang, gạo nếp, đỗ xanh, hạt tiêuGói bánh chưng, bánh tày đêm hai tám, hai chín
Thực phẩmThịt lợn, gà trống, giò, măng khô, miến, hành củLàm cỗ, nấu canh măng, muối dưa hành
Thờ cúngHương, nến, vàng mã, cau trầu, hoa, quảLễ tất niên, giao thừa, ba ngày Tết
Trang hoàngTranh dân gian, giấy đỏ, hoa đào, thuỷ tiên, cây quấtDán tranh vách, cắm hoa bàn thờ, bày trong nhà
Đồ dùng mớiNồi đất, chum vại, chiếu cói, bát đĩa, quần áoThay đồ cũ, mặc mới ngày mùng Một
Quà cho trẻPháo tép xưa, tò he, trống bỏi, kẹo bột, bóng bayQuà Tết cho con cháu

Bảng cho thấy chợ Tết quê không chỉ là chợ thực phẩm. Nó là nơi gia đình sắm lại gần như mọi thứ cho một năm mới, từ chiếc chiếu đến cái nồi. Nhiều người lớn tuổi nhớ nhất cảm giác được đi chợ Tết với mẹ, về nhà với chiếc áo mới hay đôi dép mới, thứ cả năm không có.

Ai đi chợ Tết: bà, mẹ, chị và đám trẻ theo sau

Ở làng Bắc Bộ xưa, đi chợ là việc của phụ nữ. Bà và mẹ gánh hàng ra chợ bán từ sáng sớm, bán xong mới mua. Đàn ông ít đi chợ, chỉ đi khi cần mua thứ nặng như chum vại, lợn giống hoặc khi đi mua tranh, mua câu đối. Trẻ con được cho theo nếu ngoan, và phiên chợ Tết là phiên duy nhất trong năm mà đứa nào cũng tìm cách được đi.

Ký ức của trẻ đi chợ Tết thường giống nhau: dậy từ lúc trời còn tối, đi bộ mấy cây số đường đê, tay níu vạt áo mẹ cho khỏi lạc, mắt dán vào hàng tò he, hàng pháo, hàng bóng bay. Được mẹ mua cho một chiếc kẹo bột hay con tò he là đủ vui cả ngày. Về nhà kể cho cả xóm nghe như vừa đi một chuyến xa.

Người già cũng đi chợ Tết, có khi chỉ để gặp nhau. Các cụ bà rủ nhau đi phiên chợ cuối, mua ít trầu cau, ngồi hàng nước chè đầu chợ chuyện trò. Chợ Tết vì thế cũng là chỗ gặp gỡ của cả vùng, nơi người ta biết tin nhà ai có con đi xa về, nhà ai cưới vợ cho con sau Tết.

Ở chợ Tết còn có những người không mua không bán: ông đồ ngồi viết câu đối ở góc chợ, người thầy lang bày mấy vị thuốc, đám thanh niên đứng tụm xem hàng tranh. Họ làm cho phiên chợ cuối năm có cái không khí của một ngày hội nhỏ, thứ mà chợ thường không có.

Nếp mua bán ngày cuối năm

Mua sắm vừa phải. Người xưa có câu dặn về Tết: "Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết", ý nói Tết thì ai cũng cố cho đủ đầy. Nhưng các bà các mẹ vẫn tính từng đồng, mua vừa đủ, để dành cho những tháng giáp hạt đầu năm.

Mặc cả nhẹ nhàng. Ngày cuối năm, người mua người bán đều muốn vui vẻ. Mặc cả thì có, nhưng ít khi to tiếng, vì quan niệm dân gian cho rằng cãi nhau cuối năm không hay.

Bán chạy về sớm. Người bán muốn bán hết hàng để về lo Tết, nên càng về trưa giá càng mềm. Người mua khéo thì đợi, nhưng hàng đẹp thì phải mua sớm.

Mua lấy may. Nhiều người mua một bó hoa, một đôi cây mía, một gói muối ở phiên chợ Tết như mua lấy may đầu năm. Đây là quan niệm dân gian, mỗi vùng một kiểu, không có ý nghĩa bắt buộc.

Nợ cũ trả trước Tết. Theo nếp xưa, ai nợ tiền hàng của ai thì cố trả trước Tết, để năm mới không mang nợ cũ. Chợ Tết vì thế cũng là nơi thanh toán những món nợ nhỏ trong làng.

Chợ chiều ba mươi: phiên chợ vội nhất năm

Chiều ba mươi Tết, ở nhiều làng vẫn có một buổi chợ ngắn, có khi chỉ vài hàng. Người bán là những người còn sót hàng muốn bán nốt, người mua là những nhà nghèo chờ đến phút cuối để mua được rẻ, hoặc nhà nào quên một thứ gì đó. Chợ vãn rất nhanh, đến xế chiều thì chỉ còn lá dong vương vãi và mấy cành đào gãy.

Cảnh chợ chiều ba mươi đi vào nhiều trang văn và hồi ký như một hình ảnh vừa vui vừa buồn: vui vì Tết đã đến sát, buồn vì những người bán hàng nghèo phải ngồi đến phút cuối mới về được nhà. Có những người bán hoa, bán tranh ôm hàng không bán được về, ăn Tết với nỗi lo năm sau.

Trong ký ức chung, chợ chiều ba mươi còn là lúc người ta mua hoa rẻ. Cành đào, chậu thuỷ tiên cuối cùng được bán với giá rất thấp vì người bán không muốn mang về. Nhiều gia đình nghèo đợi đến chiều ba mươi mới đi mua hoa, và cành đào rẻ ấy vẫn được cắm lên bàn thờ trang trọng như mọi cành đào khác.

Chợ Tết trong thơ ca: nhắc một câu thôi

Hình ảnh phiên chợ Tết quê Bắc Bộ đã đi vào thơ ca rất nhiều, nổi tiếng nhất là bài "Chợ Tết" của Đoàn Văn Cừ in trong phong trào Thơ mới, tả dòng người đi chợ trên đường làng từ lúc sương còn phủ. Bài thơ được nhiều thế hệ học sinh thuộc, và với nhiều người, đọc bài thơ là nhớ ngay phiên chợ Tết quê mình. Phần đọc hiểu tác phẩm nằm ở chuyên mục văn chương của trang.

Điều thú vị khi đọc lại những bài thơ, trang văn về chợ Tết là chúng ghi lại rất chính xác các mặt hàng, các kiểu người đi chợ, con đường ra chợ của một thời. Với người nghiên cứu văn hoá, đó là tư liệu quý; với người đọc bình thường, đó là cách để thấy phiên chợ Tết của ông bà mình hiện ra rõ ràng như một bức tranh.

Khi kể cho con cháu về chợ Tết quê, có thể đọc vài câu thơ, rồi hỏi ông bà chợ làng mình ngày xưa họp ở đâu, bán gì, ông bà đi chợ với ai. Những câu chuyện cụ thể của gia đình mới là thứ làm cho ký ức chợ Tết sống tiếp.

Chợ Tết quê hôm nay còn gì

Nhiều chợ phiên ở nông thôn Bắc Bộ vẫn họp theo lịch cũ, và phiên chợ cuối năm vẫn đông. Nhưng hàng hoá đã khác: siêu thị mini, cửa hàng tạp hoá mở quanh năm, người ta không còn phải dồn mua trong một phiên. Lá dong, lạt giang vẫn bán, nhưng nhiều nhà đã đặt bánh chưng sẵn thay vì tự gói.

Điều còn lại là không khí: người về quê ăn Tết vẫn thích đi phiên chợ cuối năm cho biết, mua một bó lá dong, một con gà, vài cây mía, như để chạm lại vào Tết của tuổi thơ. Ở nhiều nơi, chính quyền và người dân còn tổ chức các phiên chợ Tết xưa, tái hiện gian hàng tranh dân gian, ông đồ, hàng tò he, để giới trẻ hình dung Tết của ông bà.

Nếu năm nay về quê, hãy dậy sớm đi phiên chợ Tết cùng bà hay mẹ, mua những thứ nhỏ cho Tết và quà cho người thân. Gợi ý quà Tết có trên Vật Phẩm Phong Thủy cũng là một lựa chọn cho người ở xa không kịp về, nhưng không món quà nào thay được cảm giác đi chợ Tết quê trong buổi sáng sương mù cuối năm.

Câu hỏi thường gặp

Chợ Tết quê ngày xưa họp vào những ngày nào?

Chợ quê Bắc Bộ xưa họp theo phiên, mỗi làng một lịch, thường sáu phiên một tháng âm lịch. Phiên cuối cùng trước Tết là phiên chợ Tết, đông nhất năm. Một số nơi họp thêm phiên phụ vào hai mươi tám, hai mươi chín tháng Chạp để người dân kịp sắm sửa.

Chợ Tết quê bán những gì?

Chợ Tết quê bán đủ thứ cho Tết: lá dong, lạt giang, gạo nếp, đỗ xanh để gói bánh; thịt, gà, măng, miến để làm cỗ; hương, vàng mã, cau trầu để thờ cúng; tranh, hoa, giấy đỏ để trang hoàng; nồi niêu, chiếu cói, quần áo mới cho năm mới và đồ chơi cho trẻ.

Chợ chiều ba mươi là gì?

Đó là buổi chợ ngắn chiều ba mươi Tết ở nhiều làng, người bán muốn bán nốt hàng, người mua là nhà nghèo hoặc nhà còn thiếu thứ gì. Hàng thường rẻ, nhất là hoa, vì người bán không muốn mang về. Chợ vãn rất nhanh khi chiều xuống.

Vì sao ngày xưa đi chợ Tết là việc của phụ nữ?

Trong làng Bắc Bộ xưa, chợ là nơi phụ nữ buôn bán, trao đổi sản vật gia đình làm ra, nên việc sắm Tết cũng do bà, mẹ đảm nhận. Đàn ông chỉ đi chợ khi cần mua đồ nặng hay mua tranh, câu đối. Ngày nay sự phân công này đã thay đổi nhiều.

Bài thơ nào nổi tiếng về chợ Tết quê?

Nổi tiếng nhất là bài Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ, tả dòng người đi chợ Tết trên đường làng Bắc Bộ, được nhiều thế hệ học sinh thuộc. Ngoài ra còn nhiều bài thơ, trang văn khác về chợ Tết; phần đọc hiểu tác phẩm có ở chuyên mục văn chương của trang.

Hôm nay còn đi được phiên chợ Tết quê không?

Còn. Nhiều chợ phiên nông thôn Bắc Bộ vẫn họp theo lịch cũ và phiên cuối năm vẫn đông. Một số nơi còn tổ chức phiên chợ Tết xưa tái hiện gian hàng truyền thống. Nên hỏi người địa phương lịch phiên của chợ gần nhà trước khi đi.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183