TetXua.comTết Xưa
Tiễn ông Công ông Táo

Vì sao tiễn ông Táo bằng cá chép: tích vượt Vũ Môn, cá chở Táo quân và ý phóng sinh

Cá chép chở ông Táo về trời là hình ảnh riêng của người Việt, nối tích cá hoá rồng với tục phóng sinh. Bài giải thích gốc tích, vì sao ba con và nay thả thế nào.

Top-down shot of three red-gold carp swimming in a blue enamel basin on a brick courtyard floor in Hung Yen, morning light rippling on water, a bamboo basket at the edge

Người Việt tiễn ông Táo bằng cá chép vì theo quan niệm dân gian, cá chép là "phương tiện" đưa Táo quân về trời, dựa trên tích cá chép vượt cửa Vũ Môn hoá rồng bay lên. Thả cá xuống ao hồ sau lễ vừa tượng trưng cho chuyến đi của thần bếp, vừa mang ý phóng sinh, trả một sinh linh về với nước trong ngày cuối năm.

Tục này đặc biệt phổ biến ở miền Bắc và là nét riêng của người Việt; thần bếp ở các nước láng giềng thường không cưỡi cá. Bài này lần lại gốc tích cá hoá rồng, giải thích vì sao nhiều nhà chọn ba con, cá chép đỏ hay cá chép thường, và đặt tục cũ vào điều kiện sống hôm nay khi ao làng đã thưa, hồ phố thì đông người.

Tích cá chép vượt Vũ Môn từ đâu đến

Câu chuyện cá chép vượt cửa Vũ Môn có gốc từ Trung Hoa, gắn với một khúc sông Hoàng Hà hiểm trở được gọi là Long Môn. Truyền thuyết kể rằng đàn cá chép ngược dòng, con nào vượt được thác ở cửa ấy thì hoá rồng. Thành ngữ "lý ngư khiêu Long Môn", nghĩa là cá chép nhảy qua cửa rồng, từ lâu được dùng để chỉ người học trò thi đỗ, đổi đời nhờ nỗ lực.

Người Việt tiếp nhận tích này và gọi theo cách riêng là "cá chép vượt Vũ Môn". Hình ảnh cá hoá rồng đi vào văn chương khoa cử, vào tranh dân gian, vào chạm khắc trên đình chùa. Tranh Đông Hồ có bức "Lý ngư vọng nguyệt", vẽ cá chép ngước nhìn trăng, gợi ước mơ vươn lên. Trên nhiều mái đình Bắc Bộ, đầu đao chạm hình cá hoá rồng cũng là đề tài quen.

Khi tích ấy gặp truyện Táo quân, một sự kết nối tự nhiên ra đời: con vật có thể bay từ nước lên trời là phương tiện hợp lý nhất cho vị thần cần lên chầu Ngọc Hoàng. Không có văn bản nào ghi lại thời điểm người Việt bắt đầu dùng cá chép tiễn Táo, nhưng sự gắn kết này có lẽ đã hình thành qua nhiều đời truyền miệng. Điều chắc chắn là ở nhiều nước Đông Á khác, thần bếp không cưỡi cá; con cá chép chở Táo là sáng tạo riêng của người Việt trên nền một tích chung của khu vực.

Những tầng ý nghĩa của con cá trong ngày 23

Phương tiện lên trời. Đây là tầng nghĩa trực tiếp nhất. Cá vượt Vũ Môn hoá rồng thì chở được thần bếp qua chặng đường từ trần gian lên thiên đình.

Lòng mong vươn lên. Cá hoá rồng là biểu tượng của sự đổi thay tốt đẹp. Người thả cá gửi theo mong ước năm mới làm ăn khá hơn, con cái học hành tiến bộ.

Phóng sinh. Thả một sinh vật về môi trường sống là việc thiện theo quan niệm nhà Phật và theo đạo lý dân gian. Làm điều đó vào ngày cuối năm như một cách khép năm cũ bằng việc tốt.

Chữ "dư" trong tiếng Hán. Chữ "ngư" (cá) đồng âm với chữ "dư" (dư thừa) trong tiếng Hán, nên cá hay xuất hiện trong lời chúc "niên niên hữu dư", năm nào cũng dư dả. Lớp nghĩa này phổ biến trong văn hoá người Hoa, người Việt ở đô thị cũng biết đến.

Gắn kết với cảnh quan quê. Ao làng, sông, đầm là không gian sống của người đồng bằng Bắc Bộ. Thả cá ở ao nhà, ao làng biến lễ tiễn Táo thành việc gắn với chính mảnh đất mình sống.

Vì sao nhiều nhà chọn ba con, chọn cá chép đỏ

Những câu hỏi này xuất hiện mỗi năm. Câu trả lời ở đây là nếp phổ biến, không phải quy định bắt buộc.

  • Ba con ứng với ba vị Táo. Truyện có hai ông một bà, nên ba con cá là mỗi vị một "con ngựa". Đây là cách hiểu phổ biến nhất.
  • Một con hay một đôi cũng có. Nhiều nhà ít điều kiện thả một con tượng trưng; có nhà thả một đôi theo ý sum vầy. Theo nếp dân gian, lòng thành quan trọng hơn số lượng.
  • Cá chép đỏ, cá chép vàng được chuộng. Màu đỏ, màu vàng hợp không khí Tết, nhìn tươi tắn trong chậu nước. Cá chép thường màu bạc cũng được nhiều nhà dùng, nhất là ở quê.
  • Cá còn sống, khoẻ. Người bán chọn cá bơi mạnh, nhiều nhà thả cá vào chậu nước sạch đặt cạnh mâm lễ để cá không bị ngạt.
  • Cá giấy khi không có cá sống. Ở những nơi khó thả cá, người ta dùng cá chép giấy hoá cùng mũ áo, coi như đầy đủ ý nghĩa.

Nếu bạn hỏi người lớn trong nhà "vì sao nhà mình thả ba con", câu trả lời thường là "ông bà xưa làm vậy". Câu ấy cũng là một lý do chính đáng: tục được giữ vì nó là nếp nhà.

Từ ao làng đến hồ phố: thả cá khác đi thế nào

Ngày trước, mỗi làng Bắc Bộ có ao, có giếng, có sông. Thả cá là đi vài bước ra ao nhà hay ao đình, cá gặp nước quen, bơi mất trong bèo. Ngày nay ở đô thị, nơi thả cá dồn về vài hồ lớn và đoạn sông quen thuộc. Sáng 23 tháng Chạp, bờ các hồ ở Hà Nội đông người, cảnh xếp hàng thả cá đã thành hình ảnh quen thuộc trên báo mỗi năm.

Sự dồn người tạo ra vài chuyện mà ngày xưa không có. Túi nilon, chậu nhựa bị bỏ lại ven hồ. Có người đứng trên cầu ném cả túi cá xuống sông. Có nơi người ta giăng lưới bắt lại cá vừa thả để bán vòng sau. Chính quyền và các tổ chức môi trường ở nhiều nơi đặt điểm thu gom, nhắc người dân thả nhẹ nhàng, mang túi về.

Những thay đổi ấy không làm tục cũ mất ý nghĩa, mà đòi hỏi cách làm mới. Ý phóng sinh chỉ trọn khi con cá thật sự được sống, và nơi thả không bị biến thành bãi rác. Giữ tục theo cách hợp với hoàn cảnh là điều chính người lớn tuổi ở làng cũng tán thành, vì họ hiểu cái lõi của việc thả cá là lòng tốt.

Thả cá chép sao cho trọn ý

Gợi ý dưới đây tập trung vào việc làm sao để con cá sống và nơi thả sạch sẽ. Cách bày lễ và khấn thì mỗi nhà theo nếp riêng.

  1. Chọn nơi thả có nước sạch, đủ sâu, có dòng chảy nhẹ hoặc hồ lớn: ao, hồ, sông, đầm. Tránh cống rãnh, ao tù cạn.
  2. Mang cá trong chậu hoặc xô có nước, không để cá trong túi buộc chặt lâu.
  3. Xuống sát mép nước, nghiêng chậu cho cá tự bơi ra. Không ném từ cầu, từ bờ cao.
  4. Mang túi, chậu về. Nếu nơi thả có điểm thu gom, bỏ vào đúng chỗ.
  5. Nếu trẻ con đi cùng, để con tự tay thả và giải thích ý nghĩa phóng sinh, không biến thành cuộc đua xem ai thả xa hơn.
  6. Ở chung cư, không có nơi thả phù hợp, có thể nuôi cá trong bể, mang về ao nhà người thân ở quê, hoặc dùng cá giấy.

Mỗi bước đều đơn giản, nhưng nếu hàng nghìn người cùng làm thì hồ phố sạch hơn hẳn sau ngày 23. Đó cũng là cách giữ hình ảnh đẹp cho một tục cổ.

Những hiểu lầm quanh con cá chép ngày 23

"Cá chết là điềm xấu." Cá yếu sẵn từ lúc mua, hoặc ngạt vì để trong túi lâu, là chuyện thường. Không có căn cứ nào để đọc đó thành điềm báo. Nhiều nhà gặp chuyện này chỉ thay con cá khác, hoặc dùng cá giấy, rồi làm lễ bình thường.

"Phải thả ở sông lớn mới đúng." Người làng xưa thả ở ao nhà, ao đình. Điều cần là nước sạch và đủ cho cá sống, không phải độ lớn của dòng sông.

"Ném xa thì cá đi nhanh." Ném từ cầu hay từ bờ cao làm cá choáng, dễ chết, túi nilon rơi theo xuống nước. Thả sát mép nước mới đúng ý phóng sinh.

"Cá giấy thì không đủ lễ." Cá giấy là cách làm đã có từ lâu ở những nơi không tiện thả cá sống. Theo nếp dân gian, ý nghĩa nằm ở lòng thành của người tiễn, không ở chất liệu con cá.

"Cá càng to càng đắt càng tốt." Không sách phong tục nào nói vậy. Nhiều nhà chọn cá vừa phải, khoẻ mạnh, để cá dễ sống khi thả. Mua cá to chỉ để thể hiện là thói quen mới của đô thị, không phải nếp cũ.

Cá chép trong nếp Tết ngoài ngày ông Táo

Con cá chép không chỉ xuất hiện ngày 23. Trên tranh Tết Đông Hồ, Hàng Trống, hình cá chép bơi giữa sóng nước, cá ôm sen, cá trông trăng là đề tài quen. Đĩa sứ, bát men, khay sơn mài trong nhà dùng dịp Tết hay vẽ cá chép. Trong lời chúc đầu năm, "cá chép hoá rồng" là cách chúc người trẻ học hành, thi cử, lập nghiệp.

Ở Nam Bộ và trong cộng đồng người Hoa, cá trong ý "niên niên hữu dư" hay được vẽ trên câu đối, tranh treo, đồ trang trí bàn tiệc Tết. Hình đôi cá vờn nhau tượng trưng sự sum vầy, đủ đầy. Nhiều gia đình mua tranh, tượng nhỏ hình cá chép để biếu nhau dịp cuối năm như một lời chúc, gợi ý quà Tết có trên Vật Phẩm Phong Thủy cũng có những món mang hoạ tiết này.

Nhìn từ đó, con cá chép trong chậu nước sáng 23 tháng Chạp là một mắt xích trong cả một hệ hình ảnh Tết. Hiểu được hệ ấy, người trẻ sẽ thấy vì sao ông bà coi trọng một con cá nhỏ đến vậy. Và khi tự tay thả con cá xuống nước sáng 23, bạn đang nối mình vào một chuỗi hình ảnh mà người Việt đã chia sẻ qua rất nhiều thế hệ, từ tranh làng Hồ đến mái đình, từ lời chúc đến chậu cá ngoài chợ.

Câu hỏi thường gặp

Thả cá chép ông Táo nên thả mấy con?

Nhiều nhà thả ba con ứng với ba vị Táo quân hai ông một bà. Cũng có nhà thả một con tượng trưng hoặc một đôi. Theo nếp dân gian, số lượng không phải điều bắt buộc, lòng thành và cách thả để cá sống được mới là điều nhiều người coi trọng.

Có nhất thiết phải là cá chép đỏ không?

Không. Cá chép đỏ, vàng được chuộng vì màu tươi hợp không khí Tết, nhưng cá chép thường màu bạc cũng được nhiều nhà ở quê dùng. Điều quan trọng là cá còn khoẻ để khi thả có thể sống tiếp trong môi trường nước.

Cá chép vượt Vũ Môn có nguồn gốc từ đâu?

Tích này có gốc từ truyền thuyết Trung Hoa về cá chép vượt thác ở cửa Long Môn trên sông Hoàng Hà thì hoá rồng. Người Việt gọi là vượt Vũ Môn, dùng làm biểu tượng của sự vươn lên, thi đỗ, đổi đời, và gắn vào tục tiễn ông Táo.

Không có nơi thả cá thì làm thế nào?

Có thể dùng cá chép giấy hoá cùng mũ áo, nuôi cá trong bể ở nhà, hoặc gửi người thân ở quê thả ao nhà. Nhiều gia đình ở chung cư chọn cách này để không phải chen chúc ở hồ hay đứng trên cầu ném cá xuống.

Thả cá chép xong có cần đứng lại xem cá bơi đi không?

Không có quy định, nhưng nhiều người thích đứng nhìn cá bơi khỏi mép nước để yên tâm cá khoẻ. Với trẻ con, đây là khoảnh khắc đáng nhớ. Xong việc, bạn nhớ mang túi, chậu về hoặc bỏ đúng chỗ thu gom.

Người miền Nam có dùng cá chép tiễn ông Táo không?

Ít hơn miền Bắc. Nhiều gia đình Nam Bộ đốt ngựa giấy hoặc chỉ hoá áo giấy. Các gia đình gốc Bắc sống ở miền Nam vẫn giữ tục thả cá, nên ở các đô thị phía Nam vẫn thấy cá chép bày bán dịp 23 tháng Chạp.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183